Nghệ thuật như một giải
pháp chủ quan: Lý thuyết Lacan về liệu pháp nghệ thuật
Shirley Sharon-Zisser
Tóm tắt
Phân tâm học Lacan không thường được đề cập trong các cuộc
thảo luận về liệu pháp nghệ thuật. Tuy nhiên, tiền đề của nó mở ra những khả
năng thú vị cho các nhà trị liệu nghệ thuật. Lacan gắn bó với nghệ thuật và nghệ
sĩ, và thường xuyên sử dụng các tác phẩm nghệ thuật trong các bài luận và hội
thảo của mình, không chỉ để minh họa cho các khái niệm phân tâm học mà còn là
nguồn kiến thức mới cho phân tâm học. Phân tâm học Lacan cũng nhấn mạnh mối
liên hệ cố hữu giữa sự sáng tạo và các giải pháp mà cá nhân tìm thấy cho nỗi
đau khổ của họ, cũng như các lý thuyết về liệu pháp nghệ thuật. Bài viết này tiếp
tục với nhận thức rằng các lĩnh vực liệu pháp nghệ thuật và phân tâm học
Freud-Lacan, đặc biệt là trong việc xem xét sự sáng tạo và nghệ thuật, có nhiều
điểm tương đồng. Kết hợp các lý thuyết về liệu pháp biểu đạt và phân tâm học
Lacan, bài viết này hướng tới việc trình bày một cách có hệ thống lý thuyết
Lacan về liệu pháp nghệ thuật.
Giới thiệu
Phân tâm học Lacan không thường được nhắc đến trong các cuộc
thảo luận về liệu pháp nghệ thuật.1 Tuy nhiên, như tôi sẽ lập luận,
tiền đề của nó mang đến những khả năng thú vị cho các nhà trị liệu nghệ thuật,
một phần không nhỏ là do mối liên hệ cố hữu trong phân tâm học Lacan giữa sự
sáng tạo và các giải pháp mà cá nhân tìm thấy cho những đau khổ đeo bám họ
trong cuộc sống. Jacques Lacan thường tìm đến các tác phẩm nghệ thuật, không chỉ
để minh họa cho các khái niệm phân tâm học, mà còn là nguồn kiến thức mới cho
phân tâm học. Các tiểu luận và hội thảo của Lacan kết hợp tư tưởng của Freud với
các tác phẩm văn học như ‘Antigone’ của
Sophocles, ‘Thư bị đánh cắp’ của Poe
và Hamlet của Shakespeare, cùng những kiệt tác thị giác như ‘Ecstasy of St. Teresa’ của Bernini, ‘The Ambassadors’ của Holbein và ‘Las Meninas’ của Velazquez. Tuy nhiên,
Lacan cũng tích cực tham gia vào nghệ thuật và các nghệ sĩ hàng đầu thời bấy giờ,
coi chủ nghĩa siêu thực của André Breton và Salvador Dali là ‘trạm trung chuyển mới’ cho tác phẩm của
mình (Roudinesco, 1990, tr. 102). Một kết quả từ sự gắn bó của Lacan với chủ
nghĩa siêu thực là một bài báo đồng tác giả về phong cách văn học trong ngôn ngữ
của người tâm thần phân liệt (Lacan, 1931). Các bài báo ban đầu khác về chứng
hoang tưởng (Lacan, 1975a, 1975b) đã được xuất bản trên tạp chí siêu thực
Minotaure, cùng với tác phẩm của Dali, người đã phát triển phương pháp tính phê
phán của chứng hoang tưởng (paranoiac-critical) của
riêng mình vào thời điểm đó (Ferreira, 2003; Roudinesco, 1990, tr. 111). Trong
bối cảnh thảo luận về ý tưởng của Dali về chứng hoang tưởng không phải là một bệnh
lý tâm thần mà là một trạng thái tinh thần có tính phê phán dẫn đến việc tạo ra
cái mà ông gọi là "hình ảnh kép (double image)" đồng thời đại diện cho hai đối tượng mà
không làm biến dạng đối tượng nào, Dali đã ca ngợi luận án tiến sĩ của Lacan về
chứng hoang tưởng, tuyên bố đây là luận án đầu tiên cung cấp "một ý tưởng có tính toàn cầu và đồng nhất về
hiện tượng [hoang tưởng ([paranoid])], vượt ra ngoài mọi khái niệm tầm thường mà
ngành tâm thần học hiện nay đang mắc kẹt" (Roudinesco, 1990, tr. 111).
Tuy nhiên, bất chấp sự gắn bó chặt chẽ của Lacan với các nghệ
sĩ và nghệ thuật trong suốt sự nghiệp của mình, lý thuyết Lacan phần lớn vẫn là
một người ngoài cuộc trong lĩnh vực trị liệu nghệ thuật. Công trình của Joy
Schaverien (1995) là người tiên phong trong nỗ lực liên kết liệu pháp nghệ thuật
và phân tâm học Lacan. Gần đây nhất, Mavis Himes đã đưa ra một lời kêu gọi quan
trọng và rõ ràng 'hãy bắt đầu suy nghĩ về
mối quan hệ giữa hai lĩnh vực này theo một cách tích hợp hơn, cho phép một cuộc
gặp gỡ trị liệu khác biệt' (Himes, 2013, tr. 26). Tuy nhiên, hầu hết các
nhà lý thuyết về liệu pháp nghệ thuật vẫn có xu hướng né tránh các giáo lý lâm
sàng của Lacan, đôi khi cho rằng chúng không phù hợp với việc liệu pháp nghệ
thuật nhấn mạnh vào việc củng cố bản ngã và cố gắng 'tái tạo một mối quan hệ dựa trên trí tưởng tượng' (Levine, 2009,
tr. 120).2 Mục đích chính của bài viết này là chỉ ra hiệu quả của lý
thuyết Lacan đối với thăm khám bằng trị liệu nghệ thuật. Sự nhấn mạnh của Lacan
vào ngôn ngữ thoạt đầu có vẻ xa lạ với các lý thuyết về liệu pháp nghệ thuật,
nơi lời nói thường bị đồng nhất với các hình thức diễn đạt biểu tượng khác. Sự
nhấn mạnh này, xuất phát từ việc Freud ưu tiên các biểu hiện ngôn từ trong siêu
tâm lý học (metapsychology ) của ông và các liên tưởng ngôn từ trong liệu
pháp, thực sự là một biểu hiện văn hóa để nói lên chủ nghĩa ngôn từ trung tâm (bespeaks logocentrism). Tuy nhiên, theo quan điểm của
Lacan, tất cả các hình thức nghệ thuật đều có chiều kích biểu tượng, không chỉ
phụ thuộc vào phương tiện của chúng (từ ngữ, màu sắc, hình ảnh, âm thanh, chuyển
động) mà còn phụ thuộc vào chức năng của phương tiện này trong đời sống tâm lý
của bệnh nhân và cách họ sử dụng phương tiện này. Chính cách tiếp cận của Lacan
đối với tính đơn nhất trong mối quan hệ của mỗi chủ thể với việc tạo ra và tiếp
nhận nghệ thuật, và đặc biệt, trong những bài giảng cuối đời của ông, đối với
vai trò tiềm tàng của nghệ thuật như một phát minh chữa lành nỗi đau chủ quan,
đã khiến phân tâm học Lacan trở thành một đối tác hiệu quả cho lý thuyết và thực
hành của liệu pháp nghệ thuật. Trong phần tiếp theo, tôi sẽ phác thảo hình thức
mà một mối quan hệ như vậy có thể diễn ra.
Các lý thuyết trị liệu
nghệ thuật và lý thuyết Lacan về nghệ thuật: những nguyên tắc chung và khác biệt
Mặc dù Freud rất phong phú trong các hoạt động nghiên cứu
nghệ thuật, và mặc dù những hoạt động này rất hiệu quả trong việc nghiên cứu
các lĩnh vực nghệ thuật khác nhau, nghệ thuật hoàn toàn không có vị trí trung
tâm trong phân tâm học Freud. Một phần là vì trong tư duy của Freud, nghệ thuật
không mang địa vị là một sự hình thành của vô thức, song song với các triệu chứng,
những lời nói lỡ lời, hành động vụng về, giấc mơ hay những câu nói dí dỏm. Đối
với Freud, các tác phẩm nghệ thuật mang đến chất liệu 'hấp dẫn' để 'nghiên cứu các quy luật của tâm trí con người'
(Freud, 1933/2001, tr. 254), nhưng chúng không có bất kỳ đặc quyền khái niệm
nào so với các biểu hiện trá hình khác của chân lý vô thức. Tư tưởng của Freud
cho phép khái niệm hóa nghệ thuật như một triệu chứng (của người sáng tạo ra
nó). Nhưng quan niệm này biến nghệ thuật thành một chức năng tương đương với cơ
quan bị kích động hay nghi lễ ám ảnh, không tính đến năng suất đặc biệt của nghệ
thuật trong cuộc sống của nghệ sĩ và người tiếp nhận nghệ thuật, điều mà các
nhà lý thuyết trị liệu nghệ thuật từ McNiff trở đi đã nhấn mạnh. Khi nhấn mạnh
vai trò cơ bản của nghệ thuật trong cuộc phiêu lưu của chủ thể, các lý thuyết về
trị liệu nghệ thuật làm nổi bật hành vi thẩm mỹ như một hành vi tâm lý có ý
nghĩa đạo đức, bị lu mờ trong quan điểm của Freud về nghệ thuật như một sản phẩm
ngẫu nhiên của các cấu trúc lâm sàng, vốn vẫn tiếp tục tiềm ẩn trong giáo lý của
Lacan.
Nếu các lý thuyết về trị liệu nghệ thuật khác biệt với tư
duy của Freud và Lacan về nghệ thuật ở chỗ coi hành vi thẩm mỹ là tất yếu chứ
không phải ngẫu nhiên, thì nó lại phù hợp hơn nhiều với lý thuyết phân tâm học,
đặc biệt là theo định hướng của Lacan, ở một trong những nguyên tắc chung của
nó: sự nhấn mạnh vào giá trị chữa bệnh của nghệ thuật. Tuyên bố mạnh mẽ nhất về
nguyên lý này là quan niệm của McNiff về “nghệ
thuật như một liều thuốc trải qua các giai đoạn khác nhau của sáng tạo và phản
tư” (McNiff, 1992, tr. 3) và về hoạt động nghệ thuật như một quá trình chữa
lành. Rogers (1995) cũng nói về sự tự thể hiện nghệ thuật như một quá trình chữa
lành (tr. 175).
Levine (1999), theo hướng Heidegger hơn, nói về “sức mạnh trị liệu của nghệ thuật” mà
theo ông “nằm ở… khả năng giữ chúng ta giữa…
đau khổ để chúng ta có thể chịu đựng sự hỗn loạn mà không phủ nhận hay trốn chạy
(tr. 31)”. Mặc dù không ai trong số những nhà văn này có mối liên hệ với phân
tâm học Lacan, nhưng việc họ nhấn mạnh vào giá trị chữa lành của nghệ thuật có
nhiều điểm chung với một khái niệm then chốt trong giáo lý cuối đời của Lacan:
sinthome hay “công cụ triệu chứng (symptom instrument)” như một sáng tạo giúp cuộc sống của chủ
thể trở nên dễ chịu hơn (Lacan, 1975–1976).
“Sinthome” là gì? Người ta có thể mô tả khái niệm mà Lacan đề
xuất trong buổi hội thảo thứ hai mươi ba (Lacan, 1975–1976) như một tổ chức đặc
biệt của đời sống tâm lý, do chủ thể sáng tạo ra để làm cho cuộc sống của họ dễ
chịu hơn. Đời sống tâm lý, như Lacan nói trong suốt tác phẩm của mình, bao gồm
ba phạm trù: tưởng tượng (The imaginary), biểu tượng
(The symbolic) và thực tế (The real). Tưởng tượng là phạm trù
song hành của cái tôi như một tổng thể của những đồng nhất hóa và của người
khác (the other) (theo nghĩa là người khác) (Lacan 1977b), nơi
các mối quan hệ của chủ nghĩa ái kỷ và tính hung hăng chiếm ưu thế, và cũng là
phạm trù của sở biểu (the signified), của giác
quan. Nó tách biệt khỏi vô thức, và do đó không phải là nơi diễn raviệc phân tâm
trong các chứng loạn thần kinh. Biểu tượng (The symbolic)
là phạm trù của vô thức, mà các thành phần của nó là những gì Freud gọi là dấu
vết ký ức hoặc biểu hiện (Vorstellungen), mà Lacan, sử dụng khái niệm của
Saussure, đổi tên thành “Năng biểu (signifiers)”. Tiếp nối lý thuyết của Freud về sự kết hợp của các biểu
tượng vô thức theo một "con đường bất
quy tắc và quanh co" (1895, tr. 289), Lacan khái niệm hóa vô thức như
một chuỗi các năng biểu, trong những khoảng trống của chúng, chủ thể xuất hiện.
Vô thức là điều gần gũi nhất nhưng lại không được chủ thể biết đến, cái mà
Freud gọi là "Cảnh Khác (Other scene)". Do đó, đối với Lacan, phạm vi biểu tượng
của vô thức cũng là phạm vi của Người Khác (Other).
Tuy nhiên, Người Khác đồng thời là phạm vi văn hóa và ngôn ngữ mà một chủ thể
được sinh ra và được hiện thân cho người đó trong những con người hoặc thể chế
cụ thể. Các năng biểu vô thức (Unconscious signifiers) cấu
thành biểu tượng kết hợp trong các cơ chế cô đọng và chuyển dịch như Freud mô tả
trong các văn bản đầu tiên của mình, mà Lacan, theo nhà ngôn ngữ học và lý thuyết
văn học Roman Jakobson, khái niệm lại thành các cơ chế tu từ (rhetorical mechanisms) của ẩn dụ và hoán dụ. Do đó, câu nói
nổi tiếng của Lacan rằng "vô thức được
cấu trúc giống như một ngôn ngữ". Sản phẩm của phép ẩn dụ, hoán dụ và
các cơ chế khác từ sự kết hợp vô thức của các năng biểu cấu thành tạo nên biểu
tượng là những cách thức mà vô thức tự biểu hiện, cái mà Lacan gọi là "sự hình thành của vô thức": giấc
mơ, sự dí dỏm, những lời nói lỡ lời và những hành động vụng về khác, và rõ rệt
nhất là những triệu chứng mà nỗi đau khổ từ đó dẫn dắt bệnh nhân loạn thần đến
với sự phân tâm. Công việc phân tâm trong lĩnh vực loạn thần nằm trên trục biểu
tượng mà các cực là chủ thể của vô thức và Cái Khác (the Other) (chứ không phải
là bản ngã và những phản chiếu của nó), việc giải mã các năng biểu của người được
phân tích được thúc đẩy bởi các can thiệp phân tích như sự quét (sự nhấn mạnh,
sự cô lập của các biểu đạt cụ thể) và các đoạn cắt của phiên ảnh hưởng đến triệu
chứng, vốn là sản phẩm của sự kết nối các năng biểu này.
Tuy nhiên, triệu chứng không chỉ là một thông điệp cần được
giải mã, tức là không chỉ mang tính biểu tượng. Giống như giấc mơ mà Freud nói
đến, vượt ra ngoài nội dung hiển nhiên được tạo ra bởi quá trình cô đọng và
chuyển dịch, có một “rốn (navel)” hay hạt nhân không thể diễn giải hay nhận biết, triệu
chứng cũng có một hạt nhân có thể bị cô lập nhưng không thể giải mã thêm, tức
là một thành phần không mang tính biểu tượng, không phải là sản phẩm của chuỗi
liên kết các năng biểu vô thức, bởi vì nó quá khó chịu đến mức chủ thể không thể
ghi nhận ngay cả khi là vô thức (bị dồn nén). Hạt nhân này, nơi chủ thể tìm thấy
sự thỏa mãn nghịch lý trong nỗi khó chịu đặc trưng của chứng loạn thần kinh (mà
Lacan gọi là khoái lạc “jouissance”), nằm trong phạm vi mà Lacan gọi là thực tại
(real): điều không thể nghĩ hay nói, ngay cả khi là vô thức, và thể hiện trong
đời sống tâm lý của bệnh nhân loạn thần kinh (neurotic),
cũng như trong cảm xúc lo âu.
Trong buổi hội thảo thứ hai mươi của mình, Lacan khái niệm
hóa mối quan hệ giữa ba thanh ghi dưới góc độ lý thuyết nút thắt toán học như một
loại nút thắt đặc biệt, nút thắt Borromean, bao gồm ba vòng (trong trường hợp
này là ba thanh ghi) được buộc theo cách mà nếu bất kỳ vòng nào trong số chúng
bị nới lỏng, toàn bộ nút thắt sẽ bị tháo gỡ (Lacan, 1998). Sự ổn định tâm lý phụ
thuộc vào việc thắt nút các thanh ghi. Tuy nhiên, trong chứng loạn thần, nút thắt
Borromean bị tháo gỡ do sự ngăn chặn của biểu tượng neo giữ thanh ghi biểu tượng,
cái mà Lacan gọi là Tên của Cha (Name of the Father),
phụ thuộc vào sự ghi nhận vô thức về sự thiến (unconscious
registration of castration ) (mất đi sự thỏa mãn thực sự (loss of real satisfaction)) (Lacan 1993). Về mặt lâm sàng,
sự tan rã của ba thanh ghi được thể hiện rõ ràng qua cảm giác hỗn loạn, phân mảnh,
mong manh hoặc sương mù đang hoành hành ở rất nhiều bệnh nhân loạn thần.
Tuy nhiên, ba năm sau khi đề xuất cấu trúc tâm lý Borromean,
Lacan đã sửa đổi lý thuyết của mình để nói về "sự tịch thu tổng quát (generalised foreclosure)"
mà hậu quả là đối với mỗi chủ thể, ba thanh ghi này "đã được phân biệt rõ ràng", chưa hoàn thiện (Lacan,
1975–1976). Đối với mỗi chủ thể, luôn có một điều gì đó được trải nghiệm hoặc
thừa hưởng quá khó chịu để được ghi nhận, ngay cả khi là vô thức, mang tính biểu
tượng. Nghĩa là, có điều gì đó không hoạt động trong biểu tượng đối với mọi chủ
thể, bất kể họ có phải là bệnh nhân loạn thần hay không. Vì tưởng tượng phụ thuộc
vào biểu tượng, nên một điều gì đó trong tưởng tượng sẽ bị sai lệch đối với mọi
chủ thể, và điều này thường biểu hiện dưới dạng rối loạn trong mối quan hệ với
hình ảnh cơ thể (body image). Đối với thực tại, trước
hết nó được định nghĩa là điều không thể chịu đựng được nhất đối với chủ thể và
do đó nằm ngoài sự biểu hiện của tưởng tượng và biểu tượng. Chính vì vậy, Lacan
đã khái niệm hóa một thanh ghi tâm lý thứ tư, mà ông gọi là “sinthome” (cách viết tiếng Pháp cổ của “triệu chứng”), bao gồm những gì không hiệu
quả, những gì khó chịu nhất đối với chủ thể trong mỗi thanh ghi. Lacan lập luận
trong hội thảo thứ hai mươi ba của mình rằng chính từ chất liệu của thanh ghi
tâm lý thứ tư này mà một chủ thể có thể tạo ra một giải pháp duy nhất cho nỗi
đau khổ của mình. Lacan cũng gọi giải pháp duy nhất này là “sinthome”. Ông lý thuyết hóa lại sự kết
thúc của phân tâm – trong cả trường hợp loạn thần kinh và loạn thần – là việc tạo
ra một sinthome như một giải pháp từ chất liệu của sinthome như một thanh ghi
tâm lý thứ tư (Lacan, 1975–1976).
Nhưng ngay cả khi theo định hướng Lacan, tất cả các triệu chứng,
và đặc biệt là các sinthomes hay công cụ triệu chứng đạt được ở cuối quá trình
phân tâm, đều được coi là sáng tạo, thì không phải tất cả những sáng tạo đó đều
là hình thức của tác phẩm nghệ thuật. Phù hợp với quan điểm của Lacan về hành
vi thẩm mỹ là ngẫu nhiên hơn là cần thiết đối với chủ thể, vốn gợi nhớ đến các
tác phẩm của Freud về nghệ thuật, việc xử lý theo định hướng Lacan không nhất
thiết phải hướng đến hoặc thông qua các biểu hiện trong phương tiện nghệ thuật.
Như Levine đã nói, 'theo quan điểm Lacan,
việc nghĩ rằng nghệ thuật có thể chữa lành nỗi đau là một sự hiểu lầm'
(Levine, 2009, tr. 120). Phương tiện sinthome của một chủ thể được xây dựng
trong quá trình phân tâm của họ có thể là thơ ca, hội họa hoặc sáng tác, nhưng
nó cũng có thể là phương thức quan hệ đặc thù của chủ thể với thời gian. Ví dụ,
nhà phân tâm Lacanian, Anne Lysy (2012), kể lại trong lời khai của bà vào cuối
quá trình phân tâm, rằng xu hướng tự thúc đẩy bản thân hướng đến hành động, việc
bà là người mà nhà phân tâm gọi là "kẻ
chạy trốn (runne)" - một đặc điểm mà ban đầu bà đã phàn nàn - cuối
cùng đã được tách ra đối với bà như là yếu tố thực sự giữ cho cấu trúc tâm lý của
bà nguyên vẹn (trang 156). Việc Lacan quan niệm tất cả các sinthome như những
sáng tạo không trao bất kỳ địa vị đặc quyền nào cho các sáng tạo có tính
sinthome trong phương tiện nghệ thuật.
Đồng thời, người ta không thể bỏ qua thực tế rằng mô hình của
Lacan về sinthome là một tác phẩm nghệ thuật rõ ràng: tiểu thuyết cuối đời của
James Joyce (Lacan, 1975–1976). Luận điểm của Lacan là tác phẩm của Joyce bổ
sung cho một cái tôi cực kỳ mong manh do sự ngăn chặn trong cấu trúc tâm lý của
ông đối với chức năng ổn định của Tên Người Cha. Như một sự bổ sung giả tạo,
văn chương của Joyce đã giữ nguyên trạng thái tâm lý của ông và ngăn chặn chứng
loạn thần bùng phát thành những hiện tượng tích cực của ảo giác và hoang tưởng
(Lacan, 1975–1976). Có thể nói, theo cách nói của McNiff (1992, 2004), rằng
Lacan coi nghệ thuật của Joyce như liều thuốc của mình. Với sự nhấn mạnh của
Lacan vào bản chất sáng tạo của tất cả các triệu chứng và vị thế mẫu mực mà ông
dành cho nghệ thuật cuối đời của Joyce như một công cụ triệu chứng, có thể xây
dựng trong định hướng Lacan một cơ sở lý luận cho việc tích hợp rõ nét hơn các
phương thức nghệ thuật vào liệu pháp phân tâm.
Liệu pháp nghệ thuật
theo định hướng Lacan: tính liên phương thức (intermodality) như một hướng điều trị
Việc nhấn mạnh, theo định hướng điều trị của Lacan, vào việc
tạo ra một công cụ triệu chứng mà mô hình là tác phẩm nghệ thuật khiến định hướng
này hữu ích cho hướng điều trị trong liệu pháp nghệ thuật, nơi tác phẩm nghệ
thuật vừa là mô hình khái niệm cho giải pháp cuộc sống của chủ thể (theo thuật
ngữ của Lacan, là sinthome) vừa là bản thân giải pháp. Nhưng bởi vì một trong
những nguyên tắc cơ bản của phân tâm học Lacan là tính đặc thù không thể giản
lược của chủ thể, mà hệ quả logic của nó sẽ là khuynh hướng ở mỗi chủ thể đối với
một phương thức (modality) nghệ thuật hoặc sự kết hợp
các phương thức cụ thể, nên hướng điều trị của liệu pháp nghệ thuật theo định
hướng Lacan không thể chỉ gồm việc chỉ cung cấp cho bệnh nhân một phương thức,
bất kể phương tiện của nó đa dạng đến đâu. Nói cách khác, nếu muốn phù hợp với
các nguyên tắc của phân tâm học Lacan, liệu pháp nghệ thuật theo định hướng
Lacan phải mang tính liên phương thức, vận dụng các nguyên tắc tích hợp giữa
các phương thức khác nhau như các nhà lý thuyết trị liệu nghệ thuật McNiff
(1981, 1992, tr. xix, 22, 24, 54), Brederode (1999, tr. 151), Knill (1999) và
Estrella (2005) đã đề xuất. Do đó, việc thực hành liệu pháp nghệ thuật theo định
hướng Lacan đòi hỏi sự điều chỉnh đặc biệt với nguyên tắc về sự thiếu hụt của
việc sử dụng “chỉ một loại hình nghệ thuật
hoặc biểu hiện trong một quá trình trị liệu” (Brederode, 1999, tr. 168).
Trong khi ở cuối quá trình phân tâm Lacan, một chủ thể có thể xuất hiện với một
sinthome bao gồm các hoạt động thẩm mỹ trong một phương thức hoặc trong sự tích
hợp của nhiều phương thức khác nhau, thì bước đầu của điều trị theo liệu pháp
nghệ thuật theo định hướng Lacan nhất thiết phải bao gồm việc cung cấp một loạt
các phương thức và các phương thức chuyển đổi giữa 'âm thanh, hình ảnh, chuyển động, diễn xuất và văn bản như thể chúng rất
cần thiết trong cuộc gặp gỡ với hoàn cảnh sống của thân chủ' (Levine, 1999,
tr. 11), được gọi là 'chuyển giao liên
phương thức' (Estrella, 2005, tr. 194; Knill, 1995, tr. 36). Làm việc với
liệu pháp nghệ thuật theo định hướng Lacan chắc chắn sẽ mang tính liên phương
thức, và nó sẽ khiến nghệ thuật luôn hiện diện trong bối cảnh trị liệu. Thực
hành như vậy sẽ giúp nhấn mạnh vị thế đặc biệt của nghệ thuật trong cuộc sống
con người và trong việc chữa bệnh, mà không nhất thiết phải hướng dẫn người được
phân tích ưu tiên một phương thức này hơn các phương thức khác. Thật vậy, nó sẽ
liên quan đến lời mời liên tục về “sự chồng
chéo liên phương thức” (Estrella, 2005, tr. 194; Knill, 1995, tr. 151;
Levine & Levine, 1999, tr. 11).
Tính đa phương thức trong định hướng Lacan: phác họa ảo tưởng qua tính đa
thẩm mỹ (polyaesthetics)
Nếu liệu pháp nghệ thuật theo định hướng Lacan là đa phương
thức, ít nhất là trong giai đoạn đầu của quá trình điều trị, liệu nó có thể đồng
thời là cái mà Knill (1995, 1999) gọi là 'đa
thẩm mỹ (polyaesthetic)',
trao cho các phương thức nghệ thuật khác nhau một vị thế bình đẳng về lý thuyết
?3 Knill (1999) dường như gợi ý một hướng đi như vậy, phù hợp với lý
thuyết đa thẩm mỹ của ông, khi nhấn mạnh sự cần thiết, trong lý thuyết lâm sàng
về liệu pháp nghệ thuật đa phương thức, 'phải
có được sự hiểu biết sâu sắc về mối liên hệ phức tạp giữa các giác quan, biểu đạt,
nhận thức, và các bộ môn nghệ thuật cũng như các phương thức tưởng tượng trong
việc lựa chọn một bộ môn nghệ thuật hoặc can thiệp phù hợp' (tr. 46).4
Tuy nhiên, công trình của các nhà lý thuyết khác về liệu
pháp nghệ thuật cho thấy tính hiệu quả của việc sắp xếp các phương thức cụ thể
với các giai đoạn cụ thể (đặc biệt là giai đoạn đầu) của quá trình điều trị.
Brederode (1999) đặc biệt đã nói về sự cần thiết của cái mà bà gọi là "phân lớp (layering)"
các phương thức trong quá trình điều trị. Những phát hiện của Halprin (2002,
tr. 132), Warja (1999, tr. 191) và Chodorow (1991, tr. 115, 118, 139) về khả
năng của chuyển động, nghe nhạc ghi âm, và các hành vi thẩm mỹ nhịp nhàng nói
chung để đồng thời tiếp cận vật liệu tâm linh cổ xưa và cung cấp một ma trận đủ
tốt để chứa đựng vật liệu này (Warja, 1999, tr. 191) cho thấy cách thức phân lớp
như vậy có thể được cấu trúc. Những phát hiện này cho thấy rằng các phương thức
của khả năng tiếp cận vật liệu cổ xưa vốn có sẽ đặc biệt hiệu quả trong các
giai đoạn điều trị mà về mặt lâm sàng, cần phải đưa vật liệu quá trình chính
lên trong khi giữ và xử lý vật liệu này để nó không trở nên quá tải (Warja,
1999, tr. 191). Những phát hiện tương tự của Erwin (2000) về khả năng của trò
đóng kịch trong việc triển khai "biểu tượng, sự chuyển dịch và các khía cạnh
khác của tư duy quá trình nguyên thủy" (trang 36), và tuyên bố của
Malchiodi rằng "biểu đạt thông qua
nghệ thuật, âm nhạc, chuyển động hoặc trò chơi ... có thể là hình thức giao tiếp
chính trong trị liệu" (2005, trang 4), cho thấy vai trò quan trọng mà
những phương thức này cũng có thể có trong nỗ lực khơi gợi chất liệu nguyên thủy,
hay nói theo cách nói của Lacan hơn, là mở ra một không gian cho vô thức. Do
đó, công việc trị liệu nghệ thuật theo định hướng Lacan sẽ được phân tầng cũng
như liên phương thức, ban đầu cung cấp một loạt các phương thức nghệ thuật thu
hút các đối tượng khác nhau của động lực (đặc biệt là ánh mắt và giọng nói), và
hỗ trợ công việc trong các phương thức cụ thể, do chủ thể lựa chọn, giúp khơi gợi
chất liệu cổ xưa.
Nhưng mục đích, trong thực hành lâm sàng theo Lacan, của việc
khơi gợi chất liệu nguyên thủy, vô thức như vậy là gì? Trong trường hợp bệnh
nhân loạn thần kinh, chất liệu này, khi xuất hiện trong giai đoạn đầu của quá
trình phân tâm, nằm ở cấp độ mà Lacan gọi là ảo ảnh (phantasm):
câu chuyện vô thức tổ chức sự tồn tại của chủ thể, bao hàm mối quan hệ của chủ
thể với các đối tượng của động lực, đồng thời che giấu đối tượng cuối cùng,
nguyên nhân của ham muốn và lo âu. Phần lớn đau khổ của bệnh nhân loạn thần kinh
bắt nguồn từ cảm giác mà chủ thể tạo ra thông qua câu chuyện vô thức của mình.
Do đó, một giai đoạn lâm sàng quan trọng trong phân tích của Lacan về bệnh nhân
loạn thần kinh là việc lập bản đồ và mô tả ảo ảnh bắt đầu từ chất liệu vô thức
xuất hiện trước chủ thể.
Bởi vì bản thân ảo tưởng là một câu chuyện (hoặc tập hợp các
cảnh kể chuyện), nên có vẻ như liệu pháp nghệ thuật theo định hướng Lacan,
trong trường hợp bệnh nhân loạn thần kinh, sẽ ưu tiên các phương thức nghệ thuật
có chiều hướng kể chuyện như kể chuyện, kịch, tâm lý kịch và nghệ thuật tạo
hình kể chuyện trong giai đoạn đầu của quá trình điều trị. Một số nhà lý thuyết
về liệu pháp nghệ thuật đã chỉ ra tầm quan trọng lâm sàng của việc bệnh nhân diễn
đạt những câu chuyện mà cá nhân tự kể về cuộc sống của họ theo những cách phù hợp
với quan điểm của Lacan về sự cần thiết phải làm cho ảo tưởng xuất hiện trong
giai đoạn đầu của quá trình phân tâm. Ví dụ, Malchiodi nói rằng 'sự tự thể hiện trong một buổi trị liệu biểu
cảm ... thường bao gồm sự phản ánh bằng lời nói để giúp cá nhân hiểu được những
trải nghiệm, cảm xúc và nhận thức của họ' (2005, tr. 10).5 Tuy nhiên, ảo tưởng
mà Lacan nói đến là một cấu trúc vô thức. Do đó, trong trường hợp bệnh nhân loạn
thần kinh, bất kỳ phương thức nghệ thuật nào, dù có bao gồm tường thuật hay
không, chắc chắn sẽ làm xuất hiện một phần ảo tưởng. Phản ứng cụ thể của bệnh
nhân đối với các bản nhạc, nhịp điệu, tranh vẽ hoặc tác phẩm điêu khắc, hoặc nội
dung tác phẩm nghệ thuật thị giác của chính họ đều là những phương tiện hữu ích
để truy tìm ảo tưởng của bệnh nhân, ngay cả khi bản thân chúng không phải là tường
thuật (như kể chuyện hoặc liệu pháp kịch) hoặc thậm chí là lời nói. Việc vô thức,
như đã giải thích ở trên, đối với Lacan, nằm trên thanh ghi biểu tượng, thanh
ghi của ký hiệu, không có nghĩa là chỉ những phương thức nghệ thuật mà phương
tiện là ngôn từ mới có thể được sử dụng trong liệu pháp nghệ thuật theo định hướng
Lacan, như một phương tiện để lập bản đồ ảo tưởng hoặc ngược lại, hoặc những
phương thức như vậy sẽ có một vị trí đặc quyền. Vì công việc trong tất cả các
phương thức nghệ thuật sẽ cho phép các phần của ảo tưởng xuất hiện trong giai
đoạn đầu của quá trình điều trị trong liệu pháp nghệ thuật theo định hướng
Lacan, nên công việc như vậy không chỉ giúp lập bản đồ ảo tưởng mà còn xác định
bản chất biểu tượng cụ thể trong mỗi phương thức, một lĩnh vực mà nghiên cứu
quan trọng vẫn cần được thực hiện. Tuy nhiên, mặc dù phân tâm theo Lacan nghiên
cứu ảo tưởng, mục đích của nó không phải là củng cố hay thậm chí là lập bản đồ ảo
tưởng này. Ảo tưởng, như đã giải thích ở trên, là nguyên nhân chính gây ra chứng
đau khổ giác quan đặc trưng của bệnh nhân loạn thần kinh, mà công việc phân
tích đang nỗ lực giảm thiểu. Do đó, định hướng theo Lacan về hướng điều trị
trong liệu pháp nghệ thuật liên phương thức không chỉ tập trung vào việc lập bản
đồ ảo tưởng mà còn vào cái mà trong phân tâm học Lacan gọi là sự xuyên suốt của
nó, tức là sự đối đầu và giải mã nó theo cách khiến nó trở nên ít đau đớn hơn
cho chủ thể. Về mặt lâm sàng, sự chuyển đổi như vậy sẽ bao gồm việc ảo tưởng lệ
thuộc vào các hành động diễn giải của nhà phân tâm, thường bị giới hạn, trong
phương pháp Lacan, vào việc cắt bỏ phiên làm việc khi một biểu tượng vô thức cụ
thể xuất hiện, hoặc vào 'scansion', một
thuật ngữ chuyên môn trong lý thuyết thơ ca dùng để chỉ việc nhà phân tâm nhấn
mạnh các biểu tượng cụ thể xuất hiện trong phiên làm việc, trong khi để người
được phân tâm giải mã chúng thêm (Lacan, 1977a; Miller, 1999a). Những hành động
diễn giải như vậy có tác dụng thu gọn ảo tưởng vào cốt lõi của sự hưởng thụ
(Miller, 2001, tr. 20, 27). Theo định nghĩa, cốt lõi này là vô nghĩa vì giá trị
của nó là có thật – theo thuật ngữ của Lacan, là những gì vượt quá sự biểu tượng
hóa. Do đó, quan điểm lâm sàng của Lacan về việc sử dụng nghệ thuật trong điều
trị sẽ thừa nhận tính hữu ích của tất cả các phương thức, dựa trên bản chất
khác nhau của biểu tượng trong mỗi phương thức, trong việc trình bày ảo tưởng của
chủ thể, nhưng cũng sẽ chỉ ra sự hạn chế của ảo tưởng này đối với đối tượng thực
sự ở cốt lõi của nó, một cốt lõi mà chiều kích tường thuật của ảo tưởng đang
che giấu.
Đa thẩm mỹ dưới góc độ chuyển cảm (transference) và diễn giải của nó
Để nhà phân tâm có thể thực hiện các can thiệp diễn giải
giúp vượt qua ảo tưởng, xóa bỏ khoái cảm đau đớn mà nó tạo ra cho chủ thể, điều
quan trọng là sự chuyển cảm – và khả năng đọc hiểu nó ở nhà phân tâm. Có vẻ như
Lacan, phù hợp với quan điểm ngôn từ trung tâm kế thừa từ Freud, đặc biệt nhấn
mạnh vào lời nói được nói với nhà phân tâm, đến mức ông sẽ không coi một biểu đạt
nghệ thuật là chủ thể hóa trừ khi lời nói liên quan đến biểu đạt này và liên hệ
nó với tài liệu phân tâm hiện tại được bệnh nhân diễn đạt trong một buổi phân tâm.
Lacan nhấn mạnh rằng 'phân tâm học chỉ được
áp dụng, theo đúng nghĩa của thuật ngữ này… cho một chủ thể nói và lắng nghe'
(Evans, 1996, tr. 14, nhấn mạnh của tôi). Do đó, thoạt đầu, có vẻ như theo quan
điểm của Lacan, việc sử dụng các phương thức nghệ thuật để đưa ra chất liệu cổ
xưa hoặc ảo tưởng tự nó không thể được coi là một phần của quá trình phân tâm.
Đồng thời, việc sử dụng các phương thức nghệ thuật phi ngôn từ và phi ngôn từ
hóa như vậy có thể đóng một vai trò quan trọng trong quá trình trị liệu khi
chúng được nhà phân tâm định vị và đọc như một phần của quá trình chuyển dịch.
Tuy nhiên, chính Freud, mặc dù nhấn mạnh tầm quan trọng của
các liên tưởng từ ngữ, đã đặt nền móng cho việc đọc các khía cạnh phi ngôn từ của
quá trình chuyển dịch khi bình luận, trong quá trình phân tâm Dora, về một hành
động phi ngôn từ, hành động cô bé sờ vào túi lưới của mình trong một buổi trị
liệu, điều này cho ông thấy vai trò của hành vi thủ dâm trẻ con trong chứng loạn
thần kinh của cô bé:
Người có mắt để nhìn
và tai để nghe sẽ tự thuyết phục mình rằng không người phàm nào có thể giữ bí mật:
nếu môi im lặng, anh ta sẽ nói chuyện bằng đầu ngón tay. Lời thú tội rỉ ra từ
anh ta qua từng lỗ chân lông. (Freud, 1905, tr. 77–78)
Một khi sự chuyển cảm được thiết lập, tức là, nhà phân tâm
có trách nhiệm đọc những gì đầu ngón tay “lách
cách” – dù là trên ghế sofa, với các vật liệu nghệ thuật như sơn, bút màu,
hay đất sét nặn, khi gõ nhịp nhàng lên bề mặt hay khi điều khiển một nhạc cụ.
Freud viết, mọi thứ diễn ra giữa nhà phân tâm và người được phân tâm đều được tạo
nên từ chất liệu của sự chuyển cảm, đó là sự kháng cự (resistance)
(Freud, 1912). Tất cả các biểu hiện chủ quan phát sinh trong một buổi phân tâm,
dù là lời nói được diễn đạt trên ghế sofa trong một quá trình phân tâm cổ điển
theo trường phái Freud hay Lacan, hay tác phẩm nghệ thuật, bằng lời nói hay
không, được tạo ra trong một buổi trị liệu nghệ thuật theo định hướng Lacan, đều
được tạo ra bởi sự kháng cự, vốn là yếu tố cấu thành nên sự chuyển cảm, và
chính những biểu hiện này, bao gồm nhưng không giới hạn ở lời nói, mà nhà phân
tâm được yêu cầu phải đọc. Trong giai đoạn phân tâm mà ảo ảnh được vẽ thành bản
đồ và bước qua, những biểu hiện này trong nhiều chế độ biểu tượng mà những
phương thức khác nhau của nghệ thuật làm ra sẽ được đọc thành những khái niệm
mà chủ thể cảm giác có được trong phân tâm.
Các can thiệp phân tâm ở giai đoạn điều trị này được thiết kế
để loại bỏ ảo tưởng vô thức khỏi ý nghĩa của nó, vốn là nguyên nhân gây ra rất
nhiều đau khổ ở những bệnh nhân loạn thần kinh. Chúng là cái mà Jacques Alain
Miller gọi là "diễn giải ngược (‘interpretation in reverse)"
(Miller, 1999a). Miller nói rằng diễn giải (như việc tạo ra ý nghĩa) "được bao hàm trong chính khái niệm về vô thức"
(Miller, 1999a, tr. 10). Vô thức của bệnh nhân loạn thần kinh tự bản chất diễn
giải; nó luôn có ý nghĩa, tức là ý nghĩa ảo tưởng, mà Miller mô tả như một dạng
mê sảng mà chủ thể xây dựng bắt đầu từ "những dấu hiệu cơ bản ban đầu", những ghi nhận về chấn thương
nguyên thủy (Miller, 1999a, tr. 15). Bất kỳ sự bổ sung ý nghĩa nào từ phía nhà
phân tâm sẽ nuôi dưỡng cơn mê sảng ảo tưởng này thay vì làm nó chết đói bằng
cách biến buổi trị liệu thành một “đơn vị
vô nghĩa” trong đó chủ thể phải đối mặt với “sự mờ đục của khoái lạc” (Miller, 1999a, tr. 17), chứ không phải một
đơn vị ngữ nghĩa (semantic unit) trong đó được hiểu là
sinh sôi nảy nở. Điều này có nghĩa là đối với liệu pháp nghệ thuật theo định hướng
Lacan, giai đoạn điều trị bệnh nhân loạn thần kinh tập trung vào việc vượt qua ảo
tưởng (tức là xóa bỏ ý nghĩa của nó) sẽ diễn ra theo hai giai đoạn. Ban đầu,
nhiều phương thức nghệ thuật khác nhau, mỗi phương thức có phương thức biểu tượng
hóa riêng, sẽ được triển khai (tùy theo lựa chọn xuất phát từ chủ thể, chứ
không phải nhà phân tâm) để đưa ra chất liệu vô thức, từ đó hé lộ các phần của ảo
tưởng và giúp việc lập bản đồ trở nên khả thi. Sau đó, trong phần lớn quá trình
điều trị, bệnh nhân vẫn có thể lựa chọn giữa nhiều phương thức khác nhau, nhưng
trọng tâm lâm sàng sẽ không nằm ở cảm giác mà chúng mang lại cho chủ thể mà nằm
ở việc chúng tiết lộ điều gì về phương thức tận hưởng của họ. Vì các phương thức
nghệ thuật theo định nghĩa tác động đến các giác quan và đối tượng của động lực,
đặc biệt là ánh mắt và giọng nói trong nghệ thuật thị giác và âm nhạc, mà còn
trong các phương thức văn học như kể chuyện, liệu pháp thơ ca, liệu pháp tự sự,
liệu pháp kịch và tâm lý kịch, nên việc bệnh nhân lựa chọn các phương thức sẽ
mang tính hướng dẫn về cách thức tận hưởng của chủ thể. Nội dung biểu tượng xuất
hiện thông qua các phương thức khác nhau cũng có thể chỉ ra cách thức mà sự hưởng
thụ được đan xen trong ảo tưởng, ví dụ như vị trí của các vật thể ở miệng và hậu
môn trong ảo tưởng của bệnh nhân. Tuy nhiên, các can thiệp lâm sàng sẽ không hướng
đến việc tạo ra ý nghĩa (mà ở giai đoạn điều trị này sẽ tương đương với việc củng
cố ảo tưởng), mà là "đi ngược lại"
với ảo tưởng và vô thức (Miller, 1999a, tr. 10), sẽ ít mang tính quét và chủ yếu
nhiều hơn là cắt phiên, và tại thời điểm cần ít đi sự xuất hiện của năng biểu (signifier),
mà nhiều hơn với sự xuất hiện của một
khía cạnh của một chế độ hưởng thụ (mode of enjoyment) nằm
ngoài cảm giác.
Nghệ thuật vượt ra ngoài cảm giác
Vậy thì, hướng điều trị chứng loạn thần kinh theo định hướng
Lacan bắt nguồn từ cảm nhận (ảo tưởng) đến tính duy nhất của sự hưởng thụ (singularity of enjoyment), một chế độ của động lực thỏa mãn
(mode of drive satisfaction) nằm ngoài cảm giác. Tất cả các
phương thức nghệ thuật đều có thể góp phần vào sự xuất hiện và lập bản đồ của ảo
tưởng. Nhưng liệu tất cả các phương thức nghệ thuật – nghệ thuật thị giác, âm
nhạc, khiêu vũ và chuyển động, kịch, đối thoại hình ảnh, kể chuyện, sáng tác
thơ – có cùng vị thế, trong việc vượt qua ảo tưởng, giảm thiểu cảm giác mà nó tạo
ra khiến bệnh nhân loạn thần kinh đau khổ và tận hưởng ? Sự phân biệt mà Lacan
đưa ra trong hội thảo thứ hai mươi tư (1976–1977) giữa lời nói đầy đủ (lời nói
đầy ý nghĩa) và lời nói trống rỗng (lời nói vô nghĩa và bị giản lược thành giá
trị thực),6 cũng như sự nhấn mạnh ngày càng tăng trong các bài giảng
sau này của Lacan (kể từ hội thảo thứ hai mươi năm 1972–1973 [Lacan, 1998]) về
lời nói vô nghĩa không có ý nghĩa, cho thấy sự cần thiết phải phân biệt giữa
vai trò lâm sàng của các phương thức nghệ thuật tác động vào chiều kích ngữ
nghĩa của ngôn ngữ (kể chuyện, đối thoại hình ảnh, tâm kịch) và các phương thức
nghệ thuật có thể hướng tới việc giản lược ảo tưởng thành các thành phần vật chất,
phi biểu đạt, tàn dư chấn thương của một sự hưởng thụ vượt ra ngoài cảm giác.
Âm nhạc, nghệ thuật thị giác trong chiều kích vật chất,
khiêu vũ và chuyển động, các phương thức nghệ thuật mà trong đó đối tượng, chứ
không phải năng biểu, đóng vai trò trung tâm, sẽ đóng một vai trò quan trọng
trong quá trình chuyển đổi ảo tưởng cho đến điểm kết thúc của quá trình phân tâm.
Tuy nhiên, trong những bài giảng cuối đời của Lacan (những năm 1970), thơ ca mới
là hình mẫu của một phương thức nghệ thuật vươn tới những giới hạn vượt ra
ngoài ý nghĩa đạt được ở cuối một buổi phân tâm (ví dụ: Lacan, 1975–1976). Tuy
nhiên, thơ ca được hiểu là nghệ thuật ngôn từ phi ý nghĩa (thể hiện rõ trong
các tác phẩm như Finnegans Wake của Joyce), những trường hợp mà ngôn ngữ mang
giá trị thực sự. Lấy cảm hứng từ những bài giảng cuối đời của Lacan, nhà phân tâm
theo trường phái Lacan, J.-A. Miller (2003–2004) đã nói về sự cần thiết của
phân tâm học đương đại trong việc “nỗ lực
hướng tới thơ ca”. Do đó, trong một phương pháp điều trị cố gắng kết hợp
các nguyên tắc và thực hành của liệu pháp nghệ thuật với các nguyên tắc và thực
hành của phân tâm học Lacan, thơ ca, cùng với các phương thức khác có thành phần
phi tường thuật (non-narrative) mạnh mẽ như âm nhạc,
nghệ thuật thị giác ở khía cạnh vật chất và liệu pháp khiêu vũ hoặc chuyển động
(khác với kể chuyện, liệu pháp kịch hoặc tâm kịch), sẽ có vai trò ngày càng
tăng về cuối quá trình phân tâm, khi ảo tưởng được thu hẹp lại thành hạt nhân của
nó, và quá trình phân tâm sẽ hướng tới việc ngày càng làm trống rỗng ý nghĩa của
loại thơ ca đó.
Các nhà lý thuyết trị liệu thơ đã nói về tầm quan trọng lâm
sàng của thơ đối với việc điều trị, thường nhấn mạnh vai trò của hình ảnh thơ.
Hình ảnh thơ thường được coi là một cách đưa ra tài liệu liên quan đến những
tình huống khó khăn và khủng hoảng (Giebel Chavis, 2011, tr. 11–12; Mazza,
2013, tr. 94, 113). Tuy nhiên, theo quan điểm của Lacan, những nguyên liệu bắt
nguồn từ hình ảnh thơ, trong trường hợp loạn thần kinh, sẽ là nguyên liệu ảo tưởng.
Theo quan điểm của Lacan, việc sử dụng hình ảnh thơ, dù do chính bệnh nhân viết
ra hay trích xuất từ các văn bản hiện có và được bệnh nhân diễn giải, thực sự
có thể là một phương tiện để "tiếp cận
vô thức" (Brown, 2013). Những trường hợp làm việc chủ quan với hình ảnh
thơ do bệnh nhân trích dẫn hoặc tạo ra thực sự thường xuyên xảy ra trong nhiều quá
trình phân tâm cho bệnh nhân loạn thần kinh. Tuy nhiên, những trường hợp như vậy
luôn bộc lộ những khía cạnh ảo tưởng của bệnh nhân. Do đó, chúng có thể đóng
vai trò quan trọng trong việc giải mã ảo tưởng và chuyển tiếp đến giai đoạn tiếp
theo, trong đó jouissance (sự thỏa mãn trong đau khổ) mà chủ thể có được từ
(thường là các kịch bản khổ dâm) cấu thành nên ảo tưởng của anh ta dần dần bị
vô hiệu hóa. Trong lý thuyết về liệu pháp nghệ thuật liên phương thức, Knill,
Barba và Fuchs (1995) cũng nói về tầm quan trọng của thơ ca trong các giai đoạn
cuối của quá trình điều trị (trang 37). Tuy nhiên, vai trò mà họ dành cho thơ
ca trong các giai đoạn điều trị này hoàn toàn trái ngược với chức năng mà thơ
ca sẽ có trong các giai đoạn đó theo định hướng Lacan. Trong khi định hướng
Lacan nhấn mạnh vào chiều hướng vô nghĩa của thơ ca, khả năng của ngôn ngữ biểu
hiện của nó hoạt động như một địa điểm cho sự thỏa mãn ham muốn tình dục, Knill
và cộng sự (1995) coi thơ ca là quan trọng trong các giai đoạn cuối của quá
trình điều trị vì những gì họ coi là phẩm chất của chiều hướng 'tạo ra ý nghĩa' của nó (trang 37). Theo
quan điểm của Lacan, khả năng của thơ ca gây ra cái mà Lacan gọi là "rò rỉ ý nghĩa (leak in
sense)" (Miller, 2000–2001), để chuyển ngôn ngữ từ lời nói đầy đủ
(lời nói đầy đủ ý nghĩa) thành lời nói trống rỗng (lời nói trống rỗng ý nghĩa
và do đó bị giảm xuống thành bản chất vật chất thực sự của ngôn ngữ) (Lacan,
1976–1977) thực sự sẽ dẫn đến "sự kết
tinh (crystallisation)" mà Knill và cộng sự (1995) nói đến
(tr. 37). Nhưng trong khi Knill và cộng sự coi việc diễn đạt "cảm nhận có tính nhận thức trong các từ thơ"
là vai trò duy nhất của thơ ca vào cuối quá trình điều trị, thì quan điểm của
Lacan về sự kết thúc của phân tâm sẽ vượt ra ngoài sự kết tinh có tính nhận thức
này được cho phép bởi phương tiện thơ ca để đến được hiện thân kết tinh của
phương tiện này về cốt lõi thực sự, tính vô nghĩa của ảo tưởng từ chủ thể. Nó sẽ
thúc đẩy việc hạn chế lời nói của chủ thể khỏi những phương thức huyền ảo đầy cảm
tính của tự sự, thơ ca hình tượng hay thậm chí là thơ ca gợi ý ngữ nghĩa, thông
qua bien dire (Nói hay lắm), sự diễn đạt chính xác rồi giải mã nỗi đau chủ quan, để
tạo ra một biểu đạt thuần túy, vô nghĩa. Một biểu đạt như vậy sẽ là thơ ca thuần
túy, không có ý nghĩa. Thơ ca thuần túy là một phương tiện thỏa mãn dục vọng
không bị che khuất bởi ý nghĩa như trong tự sự, kịch, đối thoại bằng hình ảnh,
các kỹ thuật tâm kịch bằng lời như nhân đôi, hoặc thậm chí là những bài thơ mà
động lực chính nằm ở ý nghĩa của chúng, dù cho nó có được kết tinh đến đâu.
Điều này không có nghĩa là liệu pháp nghệ thuật liên phương
thức theo định hướng Lacan sẽ bao gồm việc hướng dẫn người được phân tâm tiếp
nhận việc viết thơ thuần túy như sinthome của họ. Hướng dẫn như vậy sẽ mâu thuẫn
với cả lời tuyên bố của Lacan cho nhà phân tâm là hãy hướng dẫn việc điều trị,
chứ không phải bệnh nhân (Lacan, 1977a), và sự nhấn mạnh của Lacan về tính đặc
thù của từng chủ thể, điều này ngăn cản việc chỉ đạo bất kỳ phương thức cụ thể
nào. Nó chỉ đơn giản là nhấn mạnh rằng, bất kể sinthome nào xuất hiện đối với một
chủ thể vào cuối quá trình phân tâm như một công cụ mà người đó có thể sử dụng
để vượt qua những gì còn lại của cuộc sống với một mức độ đau khổ có thể chịu đựng
được, và bất kể sinthome này, bản thân là một sáng tạo, có mang hình thức sáng
tạo cụ thể trong một trong những loại hình nghệ thuật hay không, thì việc diễn
đạt, vào cuối quá trình phân tâm cá nhân của chủ thể, về sinthome đặc thù và
riêng biệt này có thể là gì, có địa vị của thơ thuần túy, một năng biểu/khách
thể hoàn toàn do chủ thể tạo ra. Tuy nhiên, cũng giống như sự cần thiết phải diễn
đạt ảo tưởng như điểm khởi đầu của một quá trình phân tâm theo định hướng Lacan
cho thấy việc sử dụng trong lâm sàng các phương thức chứa đầy cảm giác (sense-laden) như những chất xúc tác cho sự diễn đạt đó,
quan niệm Lacan về mục đích của phân tâm như là sự sản sinh và diễn đạt một
sinthome cho thấy khả năng sử dụng việc viết thơ thuần túy, một loại thơ mà
hình ảnh của nó không nuôi dưỡng ảo tưởng, cùng với các phương thức nghệ thuật
vượt ra ngoài cảm giác khác, như một chất xúc tác cho sự diễn đạt chủ quan của năng
biểu đặc thù này.
Mặc dù quan niệm về thơ vượt ra ngoài cảm giác, một loại thơ
thiên về cái mà Lacan gọi là "hiệu ứng
lỗ hổng (hole effect )" của thơ hơn là hiệu ứng cảm giác tất yếu
của thơ, có thể hữu ích cho phòng khám trị liệu nghệ thuật trong giai đoạn cuối
của quá trình điều trị, nhưng nó lại mang tính chất ngôn từ trung tâm của
Lacan, dựa trên di sản Freud của nó, vì nó ưu tiên một hình thức nghệ thuật mà
phương tiện là ngôn ngữ. Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là khi nói về hiệu
ứng lỗ hổng của thơ ca, Lacan và khi nói về nỗ lực hướng đến thơ ca trong lâm
sàng, họ đang hướng đến thơ ca nằm ngoài ý nghĩa như một nguồn kiến thức lâm
sàng. Nghĩa là, họ không khuyến nghị sử dụng thơ ca nằm ngoài ý nghĩa trong lâm
sàng, mà sử dụng loại thơ này để lý thuyết hóa mô hình sinthome đạt được ở cuối
quá trình phân tâm. Do đó, bất chấp tính chất ngôn từ trung tâm của chính việc
chuyển sang nghệ thuật ngôn từ thay vì phi ngôn từ như một mô hình của
sinthome, cách tiếp cận của Lacan đối với thơ ca vô nghĩa như một mô hình của sinthome
đạt được ở cuối quá trình phân tâm có những hàm ý hữu ích đối với vị thế của
nghệ thuật phi ngôn từ trong bối cảnh (kết thúc) điều trị. Nếu năng biểu là
nguyên nhân của nỗi đau khổ được hưởng thụ, chức năng mà ngôn ngữ và cơ thể được
thắt nút, thì đó là bởi vì các chiều kích vật chất của năng biểu, ngữ âm và
hình ảnh, mà, xét theo các nghiên cứu phân tâm học về âm điệu (1995) của
Nicolas Abraham và công trình gần đây của Mitchell Kossak (2015, tr. 93–113),
người ta có thể thêm vào đó nhịp điệu, mang một phần nào đó của thực tại của
các động lực. Theo quan điểm này, ngay cả khi thơ ca thuần túy như sự biểu đạt
bị tước bỏ ý nghĩa là hình mẫu của hạt nhân jouissant của ngôn ngữ mà phân tâm
hướng tới, thì vẫn có thể, mặc dù không bắt buộc, đưa sự phân tích vượt ra
ngoài cái năng biểu này đến các khớp nối sinthomatic liên quan đến vật chất thực
sự của biểu hiện, vật chất làm cho ý nghĩa trở nên khả thi nhưng bản thân nó lại
vô nghĩa. Điều này có thể bao gồm chuyển động, giọng nói, sáng tác âm nhạc và
nghệ thuật thị giác. Vì vậy, trong khi Knill và cộng sự (1995) hình dung một
quá trình trị liệu nghệ thuật liên phương thức trong đó 'hình ảnh, hành động, chuyển động, nhịp điệu hoặc âm thanh' sẽ 'cuối cùng kết tinh thành một hoạt động thơ
ca' cho phép chúng 'tìm thấy cảm nhận
có tính nhận thức trong các từ ngữ thơ ca' (trang 37), một định hướng
Lacanian chỉ ra một quá trình ngược lại của quá trình điều trị liên phương thức
(kết thúc) trong đó một biểu đạt thơ ca đã kết tinh, bản thân nó đã phần lớn bị
tước bỏ các ý nghĩa tưởng tượng (maginary meanings)
đã thấm nhuần sự thể hiện có tính tường thuật và kịch tính mà có thể đã có trước
đó, tiếp tục được giảm xuống thành các cấu phần vật chất của nó trong chuyển động,
nhịp điệu, âm thanh, biểu đạt đồ họa hoặc tạo hình như là biểu hiện của thực tế
của các động lực.
Lý thuyết của Lacan về sinthome như một khách thể/năng biểu
đặc thù được chủ thể chế tạo vào cuối quá trình phân tâm thay vì tồn tại sẵn
trong kho tàng chung của các năng biểu, do đó, mang lại sự cộng hưởng lý thuyết
cho các tuyên bố của các nhà lý thuyết trị liệu nghệ thuật, những người đã nói
về thơ ca và các phương thức phi ngôn từ như những phương thức liên quan trực
tiếp hơn đến cơ thể và ham muốn tính dục (theo thuật ngữ của Lacan, jouissance)
so với các phương thức giàu cảm giác của vẽ hoặc hội họa, đối thoại, kể chuyện
và kịch (cho dù dưới hình thức múa rối, kịch hóa hay kỹ thuật tâm kịch). Ví dụ,
Rogers (1995) nói về giọng nói như một mối liên hệ nơi "cơ thể và tâm trí gặp gỡ" (trang
81), và về âm thanh (liên quan đến cả giọng nói và âm nhạc, dù được nghe hay
sáng tác) như một "rung động"
hữu hình (trang 83), do đó có khả năng gợi lên "những trải nghiệm cảm xúc rất sâu sắc" (trang 86). Warja
(1999) nói về khả năng của âm nhạc trong việc tái hiện những trải nghiệm giác
quan ban đầu 'được khắc [như] ký ức vào
các tế bào thần kinh của chúng ta từ rất lâu trước khi ngôn ngữ được phát triển'
(trang 191). Brederode (1999) nói về khả năng tương tự của hình ảnh thị giác
trong việc gợi lên những ký ức bị lãng quên đã 'bị che phủ từng lớp và giờ đây đang trở nên dễ tiếp cận và có thể tiếp
cận được' (trang 151).7 Tất cả các nhà lý thuyết này đều chỉ ra
mối liên hệ trực tiếp giữa các phương thức nghệ thuật phi ngôn ngữ hoặc các
thành phần của chúng (ví dụ: nhịp điệu) và đời sống của cơ thể. Trên cơ sở giảng
dạy sau này của Lacan, tôi sẽ thêm thơ vào danh sách này, vì nó thuộc loại hình
làm nổi bật tính vật chất của nó, như một phương thức khác thể hiện mối liên hệ
trực tiếp này giữa biểu hiện nghệ thuật và đời sống của ham muốn tính dục
(libido).
Liệu pháp nghệ thuật Lacan trong lĩnh vực rối loạn tâm thần
Những cân nhắc trên chỉ ra hướng điều trị theo hướng Lacan
trong liệu pháp nghệ thuật. Với những bệnh nhân loạn thần kinh, liệu pháp nghệ
thuật liên phương thức theo định hướng Lacan sẽ sử dụng nhịp điệu, chuyển động,
âm nhạc, cũng như các tác phẩm phi hình tượng với các vật liệu đồ họa và tạo
hình nguyên thủy như sơn ngón tay, đất nặn và đất sét, một cách chiến thuật và
cục bộ vào giai đoạn đầu điều trị khi cần nới lỏng sự kiểm soát của bản ngã và
tiếp cận những chất liệu bị dồn nén. Phần lớn, các phương thức nghệ thuật liên
quan đến ảo tưởng (như hội họa hoặc vẽ tường thuật, kể chuyện, kịch, múa rối, tâm
kịch) hoặc việc bệnh nhân tự tường thuật lại các tác phẩm nghệ thuật bằng các
phương thức phi ngôn ngữ (khiêu vũ và chuyển động, âm nhạc, nhịp điệu, nghệ thuật
thị giác phi tường thuật và phi hình tượng, thơ ca) sẽ được sử dụng như một
phương tiện để lập bản đồ ảo tưởng, để trước tiên nó có thể được chủ thể hóa và
diễn đạt cho nhà phân tâm, sau đó được giải mã, xem xét kỷ lưỡng và loại bỏ ý
nghĩa trong quá trình phân tâm. Trong quá trình phân tâm, việc tăng cường sử dụng
một cách chiến lược các phương thức phi ngôn ngữ (nonverbal)
sẽ phụ thuộc vào hiệu quả lâm sàng của chúng trong việc khơi gợi những chất liệu
bị dồn nén khi quá trình điều trị tiến triển, đồng thời với việc giảm liều lượng
các phương thức ảo tưởng. Về cuối quá trình phân tâm, việc tăng cường sử dụng
trong lâm sàng các phương thức phi ảo tưởng (non-phantasmatic)
(phương thức phi ngôn ngữ và thơ trữ tình vô nghĩa) sẽ được thực hiện như một
phương tiện để tạo điều kiện cho quá trình chủ thể chế tạo một công cụ triệu chứng
đặc thù, có thể giúp sự tồn tại của họ dễ chịu hơn, bất kể bản thân công cụ triệu
chứng này cuối cùng có liên quan đến việc thực hành một trong những phương thức
này hay không.
Trong trường hợp bệnh nhân loạn thần (đặc biệt là tâm thần
phân liệt), một hướng điều trị rất khác sẽ được yêu cầu, một hướng điều trị cho
phép chủ thể tổ chức, ổn định và neo giữ một thế giới vốn đã phân mảnh và hỗn
loạn. Hầu hết bệnh nhân loạn thần tìm kiếm sự giúp đỡ thực sự phải vật lộn với
sự hỗn loạn, cũng như với những gì Jacques-Alain Miller, khi nói về chứng loạn
thần thường biểu hiện trong thời đại chúng ta, cái mà ông gọi là 'chứng loạn thần thông thường (ordinary psychosis)'
(Miller, 1997, 1999b, 2009), mô tả là cảm giác 'mờ mịt(fog)' về mặt tâm lý (Miller, 1997, tr. 117), hoặc, như nhà phân tâm
theo trường phái Lacan Jean-Pierre Deffieux đã nói về bệnh nhân loạn thần, cảm
giác rằng mặt đất cứ liên tục và thể hiện một cách khó hiểu 'sụp đổ dưới chân mình (dropping from beneath his fee)' (Miller, 1997, tr. 119). Điều này có nghĩa là, theo thuật ngữ của
Lacan, bệnh nhân loạn thần thiếu một chức năng tâm lý giúp định hướng họ trong
thế giới, đặc biệt là một chức năng biểu tượng giúp định vị, phân định, giới hạn
sự hưởng thụ, chức năng mà Lacan gọi là 'Tên
Người Cha' (Miller, 1997, tr. 123). Jouissance do đó thể hiện như những cảm
giác không giới hạn tràn ngập chủ thể, đôi khi dưới dạng những giọng nói mang
theo lời lăng mạ, thường xuyên, như nhà phân tâm theo trường phái Lacan là
Alexandre Stevens nói, như những rối loạn nghiêm trọng (chẳng hạn như sự tách rời
hoặc cảm giác bên ngoài) trong mối quan hệ của chủ thể với cơ thể của mình
(Stevens, 2012, tr. 69, 72, 77). Các biểu hiện lâm sàng của chứng loạn thần như
cảm giác hỗn loạn, 'cơ thể vỡ thành từng
mảnh ' của Deleuze và Guattari hướng tới trong AntiOedipus (Deleuze &
Guattari, 2009) hoặc sản phẩm của cái mà Bion định nghĩa là 'các cuộc tấn công vào liên kết (attacks on linking)' (Bion, 1959) do đó, theo thuật ngữ của
Lacan, là những rối loạn trong trí tưởng tượng, sự phân mảnh của nó, bắt nguồn
từ sự sụp đổ trong biểu tượng mà trí tưởng tượng phụ thuộc một cách logic. Nếu
không có la bàn của Tên Thánh Cha, 'sự ổn định của thế giới của chủ thể, ý
nghĩa của nó, sẽ tan biến. Chủ thể bị lạc lối, sai lầm: anh ta không còn gắn bó
với người khác, với cảm nhận về thế giới nữa” (Stevens, 2012, tr. 72). Như
Alexandre Stevens giải thích, “hiện tượng
tan rã của trí tưởng tượng phải được đặt trong bối cảnh hậu quả của sự bùng
phát” của chứng loạn thần (Stevens, 2012, tr. 72).
Đồng thời, “trong trường
hợp chức năng làm cha [Tên của Cha] không được thiết lập”, và do đó trục biểu
tượng mà Tên của Cha neo giữ bị mất cân bằng, “chủ thể chỉ còn lại trục tưởng tượng làm trụ cột chính” (Stevens,
2012, tr. 85). Trong chứng loạn thần được nhận thức trong phân tâm học Lacan,
thì sự ghi nhận tưởng tượng vừa là nơi diễn ra những xáo trộn vừa là nơi tìm kiếm
giải pháp. Đồng thời, các hình thức ổn định trong chứng loạn thần thường mang
hình thức tưởng tượng. Ảo tưởng, theo thuật ngữ của Freud, là một “nỗ lực phục hồi, một quá trình tái thiết”
(Freud, 1911/2001, tr. 71), hoặc theo thuật ngữ của Lacan, là một nỗ lực tái
thiết, thông qua trí tưởng tượng, một mối liên kết với Người Khác (the Other) đã bị phá vỡ bởi sự bùng phát của chứng loạn thần,
là một hình thức như vậy (Miller, 1998; Stevens, 2012, tr. 79). Các hình thức ổn
định khác thông qua trí tưởng tượng có thể mang hình thức của một sự gắn bó phi
biện chứng (undialecticised attachment) với một đồng nhất mà nếu không
có nó, chủ thể sẽ sụp đổ – với một nghề nghiệp hoặc vai trò xã hội (như trường
hợp của Schreber trước khi chứng hoang tưởng của ông bùng phát), hoặc với một
người khác đóng vai trò kép (double) (Stevens, 2012,
tr. 87). Sự xoa dịu tưởng tượng thông qua việc bám víu vào việc “làm giống người khác” mà người ta thấy
trên đường phố, ở nhà hoặc tại nơi làm việc cũng xuất hiện trong phòng khám như
một hình thức giải pháp chủ quan cho cảm giác hỗn loạn mà bệnh nhân loạn thần
đang phải vật lộn (Stevens, 2012, tr. 92). Trong những trường hợp khác, bệnh
nhân loạn thần tìm thấy sự ổn định tưởng tượng không phải thông qua những hình ảnh
phản chiếu mà thông qua việc tìm ra giới hạn cho cơ thể của họ, tái chiếm hữu
nó thông qua các hoạt động như xăm hình và xỏ khuyên hoặc tạo ra những phát
minh độc đáo chứa đựng cơ thể của họ, như trường hợp “hộp ôm (hug box)” của Temple Grandin
(Stevens, 2012, tr. 93). Phòng khám trị liệu nghệ thuật, nơi các hộp và vật liệu
khác có thể được sử dụng để xây dựng ý tưởng về giới hạn cơ thể là những thành
phần phổ biến (ví dụ: Hyland Moon, 2010), có thể là một diễn đàn hiệu quả để hỗ
trợ việc xây dựng các giải pháp tưởng tượng như vậy, những liên kết nhân tạo được
thiết kế để tái chiếm hữu cảm giác về sự thống nhất thể xác của chủ thể, miễn
là nguyên tắc Lacan về việc phân biệt và củng cố giải pháp duy nhất của chủ thể
thay vì gợi ý cho họ một giải pháp được tuân thủ. Một hình thức ổn định khác
thông qua tưởng tượng có thể nhận thấy trong phòng khám của các chứng loạn thần
được nhìn từ định hướng Lacan là việc chủ thể tự xây dựng cho mình một 'cơ thể bên ngoài cơ thể' - không phải bằng
cách đánh dấu hoặc giới hạn cụ thể cơ thể của mình mà bằng cách chế tạo trong một
cõi khác sự thống nhất mà cơ thể này thiếu do sự thất bại trong biểu tượng và
sau đó phân mảnh trí tưởng tượng (Stevens, 2012, tr. 98–100). Như trường hợp Chân
dung Nghệ sĩ thời trẻ và Người Dublin của Joyce được Lacan phân tích cho thấy,
chiều kích tưởng tượng của nghệ thuật – sự trình bày của cảm giác và hình ảnh
(trong trường hợp của Joyce, những mảnh hình ảnh mà ông kết nối vào những khoảnh
khắc sáng tỏ, đóng vai trò như hình ảnh cơ thể giả tạo (prosthetic
body image) của ông [Lacan, 1975–1976; Sharon-Zisser, 2006]) – có thể là
một địa điểm hiệu quả cho việc chế tạo một cơ thể tưởng tượng bên ngoài cơ thể.
Tất cả các ví dụ trên về các giải pháp chủ quan cho sự ổn định trong chứng loạn
thần đều là những trường hợp mà chủ thể sáng tạo ra một hình thức thống nhất
thông qua cái mà nhà phân tâm theo trường phái Lacan Alexandre Stevens gọi là “cái nạng tưởng tượng (imaginary crutch)” (Stevens, 2012, tr. 101).
Tuy nhiên, sự ổn định tưởng tượng (Imaginary
stabilisations) tất nhiên không phải là hình thức giải quyết chủ quan
duy nhất cho sự xâm chiếm của khoái cảm trong các trường hợp loạn thần, vốn thường
biểu hiện dưới dạng cảm giác hỗn loạn. Trong phòng khám Lacan, sự ổn định của
loạn thần diễn ra dưới dạng cho phép chủ thể tạo ra một sinthome, có thể phần
nào che giấu và đóng khung một khoái cảm vốn dĩ không giới hạn (Stevens, 2012,
tr. 16). Những điều này có thể diễn ra dưới dạng sự ổn định nằm giữa tưởng tượng
và thực tế, chẳng hạn như việc đề cập đến các sự kiện cơ thể (sự bùng nổ khoái
cảm tràn ngập chủ thể) – ví dụ, một liệu pháp điều trị về việc một người bị tra
tấn bởi những từ ngữ mà sức nặng của chúng trở nên quá thực tế khi phát triển hứng
thú kể chuyện về mỗi từ gặp phải. Mặc dù một giải pháp như vậy, có thể được hỗ
trợ trong một phòng khám trị liệu nghệ thuật theo định hướng Lacan thông qua
các phương thức kể chuyện hoặc liệu pháp kịch, được tiến hành thông qua ý nghĩa
của năng biểu, tức là sự thể hiện của biểu tượng, nhưng điều quan trọng ở đây
không phải là từ ngữ được viết ra hay mơ hồ như trong các trường hợp phân tâm
thuộc lĩnh vực loạn thần kinh, mà là ý nghĩa của từ ngữ, tức là từ ngữ trong
chiều kích tưởng tượng của nó. Do đó, có thể nói rằng điều bị đe dọa trong các
giải pháp như vậy là 'một nỗ lực tưởng tượng
để sử dụng biểu tượng', thường là không thể ngăn chặn việc sản sinh ý nghĩa
(Stevens, 2012, tr. 98). Điều này đòi hỏi về mặt lâm sàng đối với liệu pháp nghệ
thuật theo định hướng Lacan là phân định xem hoạt động nghệ thuật nào phục vụ
cho bệnh nhân loạn thần đang vật lộn với sự hỗn loạn hoặc khoái lạc quá mức như
một phương tiện xoa dịu, cho dù là chỗ dựa tưởng tượng hay việc sử dụng biểu tượng
tưởng tượng, hỗ trợ họ, và nếu có thể, cho phép họ đa dạng hóa. Tuy nhiên, điều
quan trọng nhất đối với phòng khám tâm thần Lacan, bởi vì ổn định và bền vững
hơn, là những giải pháp không chỉ là những cái nạng tưởng tượng hay chỉ là những
nút thắt giữa tưởng tượng và biểu tượng, tức là việc sử dụng biểu tượng để mang
lại ý nghĩa cho những gì thường làm chủ thể bối rối và đau khổ, mà còn bao gồm
việc thắt nút cả ba phạm vi bằng chất liệu từ phạm vi thứ tư, phạm vi của
sinthome bao gồm những gì không hiệu quả đối với chủ thể trong tưởng tượng, biểu
tượng và thực tế, chất liệu được kết hợp lại thành một giải pháp sinthome duy
nhất, cái mà Lacan gọi là 'sự bổ sung (suppleance)'
(Lacan, 1976; Stevens, 2012, tr. 101). Những giải pháp sinthome như vậy, mà ví
dụ chính của Lacan là phong cách mới mẻ và phần lớn là vô nghĩa, như Joyce’s late work, thường bao gồm những cách sử dụng đặc thù các
thành phần chung của trải nghiệm. Đây có thể là những từ hoặc chữ cái được sử dụng
khác với cách dùng thông thường (tức là mang tính biểu tượng), như trong các
tác phẩm cuối đời của Joyce; chúng cũng có thể là những vật thể cụ thể mà chủ
thể sử dụng một cách riêng lẻ để xoa dịu cơn khoái cảm đang tràn ngập anh ta.
Ví dụ, nhà phân tâm theo trường phái Lacan, Philippe Lacadée, kể lại trường hợp
bệnh nhân Virginie của mình, người "đã
có thể tạo ra một "phát minh được đặt làm riêng", bất chấp việc bị tước
bỏ Danh xưng của Cha": máy sấy tóc, thứ mà cô ấy dùng để tự trấn tĩnh
khi ở trong trạng thái lo lắng hoặc khó khăn, nằm trên giường và thổi hơi nóng
từ máy vào bụng dưới. Lacadée giải thích rằng với vật thể nằm ngoài cơ thể này,
Virginie đã có thể kiềm chế và hạn chế cơn khoái cảm đang xâm chiếm cô ấy
(Lacadée, 2006, tr. 174). Việc hỗ trợ bệnh nhân xây dựng một sinthome thông qua
việc sử dụng riêng lẻ các vật thể cụ thể rất hiệu quả đối với phòng khám trị liệu
nghệ thuật, vốn thường liên quan đến việc sử dụng các vật thể tìm thấy trong
quá trình trị liệu (ví dụ: Brooker, 2010; Hyland Moon, 2010).
Do đó, hướng điều trị các chứng loạn thần trong liệu pháp
nghệ thuật theo định hướng Lacan sẽ bao gồm việc hỗ trợ sự sáng tạo sinthome mà
không nuôi dưỡng ý nghĩa của nó, tức là hỗ trợ nó như một ý nghĩa bên ngoài.
Trong bất kỳ trường hợp nào, giải pháp sinthome xuất hiện, bất kể phương thức
nghệ thuật hay sự kết hợp các phương thức được bệnh nhân lựa chọn một cách ngẫu
nhiên để hình thành nên giải pháp chủ quan của mình.
Kết luận lâm sàng: kết
thúc của phân tích và hơn thế nữa
Ngoài tính đặc thù của các cấu trúc lâm sàng của chứng loạn
thần kinh và loạn thần, cũng như những thử nghiệm lâm sàng khác nhau mà chúng bao
hàm sự liên quan đến việc sử dụng nghệ thuật trong lâm sàng, còn có tính đặc
thù không thể giản lược của từng đối tượng trong phân tâm. Hơn bất cứ điều gì
khác, chính tính đặc thù không thể giản lược này, không thể so sánh và không thể
lường trước, luôn gây ngạc nhiên như sáng tạo nghệ thuật,8 là cốt
lõi của định hướng Lacan trong lâm sàng.
Kết luận đạo đức: hướng
tới định hướng thẩm mỹ trong phân tâm học Lacan
Liệu pháp nghệ thuật có thể đạt được độ chính xác về mặt lý
thuyết và hiệu quả lâm sàng từ việc tích hợp các nguyên tắc của phân tâm học
Lacan, mà nó chia sẻ sự nhấn mạnh vào tính sáng tạo của chủ thể. Nhưng phân tâm
học Lacan cũng có thể học hỏi được điều gì đó từ một lĩnh vực đã đầu tư rất nhiều
vào việc khám phá chiều kích thẩm mỹ trong trải nghiệm của con người, điều này
không chỉ thể hiện trong các kiệt tác kinh điển mà lý thuyết phân tâm học có thể
học hỏi, mà còn trong trải nghiệm hàng ngày của những cá nhân đang đau khổ. Về
mặt đạo đức của phân tâm học, phù hợp với mối quan tâm của nó đối với sáng tạo
và nghệ thuật, phân tâm học Lacan có thể xem xét nguyên tắc trách nhiệm thẩm mỹ
(của cả nhà phân tích và người được phân tích) được Knill và cộng sự (1995, tr.
75) nêu ra. Một chỉ thị thẩm mỹ như vậy có thể giúp nhà phân tâm không chỉ nhận
ra những khoảnh khắc đẹp trong chiều kích bi kịch của trải nghiệm của chủ thể,
mà Lacan lấy hiệu ứng cái đẹp trong vở Antigone của Sophocles làm hình mẫu, mà
còn hướng tới việc áp dụng một cách tiếp cận nghệ thuật vào mối quan hệ trị liệu.
Ghi chú
1. Một ngoại lệ đáng chú ý là công trình của J. Schaverien
(1995) trong lĩnh vực trị liệu nghệ thuật thị giác, dựa trên khái niệm về cái
nhìn của Lacan. Tuy nhiên, công trình của Schaverien không áp dụng các nguyên tắc
lâm sàng của phân tâm học Lacan cho lĩnh vực trị liệu nghệ thuật như tôi đã làm
trong công trình này. Gần đây nhất, M. Himes (2013) đã đưa ra một mô tả chính
xác và thuyết phục về mối quan hệ giữa phân tâm học Lacan và trị liệu nghệ thuật,
đặc biệt là khi đề cập đến khái niệm về việc tạo ra công cụ triệu chứng hay
'sinthome' vào cuối quá trình điều trị. Điều tôi trình bày ở đây là một mô tả
lý thuyết lâm sàng về sự kết hợp giữa các nguyên tắc của phân tâm học Lacan và
trị liệu nghệ thuật trong
quá trình điều trị.
2. Levine dựa trên tuyên bố của mình về 'phê phán của Lacan
về trí tưởng tượng' trong các bài viết đầu tiên của ông (Levine, 2009, tr.
119–122). Xem thêm Knill, Levine và Levine, 2005, tr. 61. Tuy nhiên, cả trong
những bài viết đầu tiên này lẫn các tác phẩm sau này, Lacan đều không khẳng định
rằng “nghệ thuật luôn bị mê hoặc bởi trí tưởng tượng” (Levine, 2009, tr. 120).
Thật vậy, trong tác phẩm cuối đời về Joyce, Lacan đã khẳng định rõ ràng rằng
chính nhờ nghệ thuật mà Joyce đã tạo dựng nên một lối sống cho riêng mình, một
giải pháp duy nhất cho nỗi đau khổ của ông (Lacan, 1975–1976). Để có một quan
điểm tương tự về khái niệm sinthome của Lacan như một sáng tạo “rất riêng biệt
và đặc thù” và sự liên quan của nó với liệu pháp nghệ thuật, xem Himes, 2013,
tr. 33.
3. Xem thêm Levine và Levine (1999, tr. 11) và Estrella
(2005, tr. 194).
4. Về khái niệm ảo ảnh của Lacan, hãy xem hội thảo về logic
của ảo ảnh (Lacan, 1966–1967) và thảo luận về chức năng của nó liên quan đến
tác phẩm The Ambassadors của Holbein trong hội thảo về bốn khái niệm cơ bản của
phân tâm học (Lacan, 1977d).
5. Đối với các phát biểu phụ âm trong các phương thức cụ thể
của liệu pháp kịch và liệu pháp tường thuật, xem Erwin (2000, tr. 45) và Dunne
(2000, tr. 112–116).
6. Sự phân biệt của Lacan giữa lời nói đầy đủ và lời nói trống
rỗng trong hội thảo thứ hai mươi tư đã thay thế sự phân biệt trước đó của ông
giữa lời nói trống rỗng như lời nói có ý thức của bản ngã và lời nói đầy đủ như
những gì xuất hiện trong các hình thái của vô thức, trong 'Chức năng và Lĩnh vực
của Lời nói và Ngôn ngữ trong Phân tâm học' (Lacan, 1977c, tr. 45–46). Trong phần
tiếp theo, tôi chỉ đề cập đến sự phân biệt sau này.
7. Xem thêm Halprin (2002, tr. 132) về chuyển động, tư thế
cơ thể và cử chỉ trên nhịp điệu (liên quan đến âm nhạc, giọng nói, chuyển động
và thơ ca, cũng như trong hội họa, hội họa và điêu khắc); Rogers (1995, tr. 53)
về chuyển động trong mối quan hệ của nó với nhục dục và tình dục; và Chodorow
(1991, tr. 114–118) về khía cạnh bản năng của chuyển động.
8. Xem thêm Himes (2013), tr. 33
Tham khảo
Abraham,
N. (1995). Rhythms: On the work, translation, and psychoanalysis. (B.
Thigpen & N. Rand, Trans.). Stanford: Stanford University Press. (Original
work published 1985).
Bion, W.
(1959). Attacks on linking. International Journal of
Psychoanalysis, 40, 308–315.
Brederode,
A. (1999). Layer upon layer: A healing experience in the art studio. In S.
Levine, & E. Levine (Eds.), Foundations of expressive arts therapy:
Theoretical and clinical perspectives (pp. 151–170).
London and Philadelphia: Jessica Kingsley Publishers.
Brooker,
J. (2010). Found objects in art therapy. International Journal of
Art Therapy, 15(1), 25–35.
Brown, N.
(2013). Creative activities for group therapy. London:
Routledge.
Chodorow,
J. (1991). Dance therapy and depth psychology. London: Routledge.
Deleuze,
G., & Guattari, F. (2009). Anti-Oedipus: Capitalism and schizophrenia.
Harmondsworth: Penguin. (Original work published 1972).
Dunne, P.
(2000). Narradrama: Narrative approach in drama therapy. In D.R.
Johnson, & P. Read (Eds.), Current approaches in drama therapy (pp. 111–128).
Springfield, IL: Charles Thomas.
Erwin, I.
(2000). Psychoanalytic approach to drama therapy. In D.R. Johnson,
& P. Read (Eds.), Current approaches in drama therapy. (pp. 27–49).
Springfield, IL: Charles Thomas.
Estrella,
K. (2005). Expressive therapy: An integrated arts approach. In C.
Malchiody (Eds.), Expressive therapies. (pp. 183–214). New
York: Guilford Press.
Evans, D.
(1996). An introductory dictionary of Lacanian psychoanalysis. London:
Routledge.
Ferreira,
J. (2003). Dali-Lacan: le recontre. [Dali-Lacan: the
encounter]. Paris: L’Harmattan.
Freud, S.
(1895). With Breuer, J. Studies on hysteria (Standard
Edition, Vol. 2). London: Vintage.
Freud, S.
(1905). Dora: Fragment of an analysis of a case of hysteria (Standard
Edition). London: Vintage.
Freud, S.
(1911/2001). Psychoanalytic notes on an autobiographical account of a case of
paranoia (dementia paranoides). The standard edition of the complete
psychological works of Sigmund Freud. (J. Strachey, Trans.).
Vol. 12, pp. 1–82.
Freud, S.
(1912). The dynamics of transference (Standard Edition, Vol. 12,
pp. 97–108). London: Vintage.
Freud, S.
(1933/2001). Preface to Marie Bonaparte’s The
life and works of Edgar Allan Poe: A psychoanalytic interpretation. The
standard edition of the complete psychological works of Sigmund Freud. (J.
Strachey, Trans.). Vol. 22, p. 254.
Giebel
Chavis, G. (2011). Poetry and story therapy: The healing power of creative expression. London
and Philadelphia: Jessica Kingsley Publishers.
Halprin,
D. (2002). The expressive body in life, art, and therapy. London
and Philadelphia: Jessica Kingsley Publishers.
Himes, M.
(2013). Verbal to the second power: An encounter between Lacan and
expressive arts therapy. Canadian Art Therapy Association Journal, 26(1), 26–33.
Hyland
Moon, C. (2010). Materials and media in art therapy: Critical understanding of
diverse artistic vocabularies. London: Routledge.
Knill, P.
(1999). Soul nourishment, or the intermodal language of imagination. In
S. Levine, & E. Levine (Eds.), Foundations of expressive
arts therapy: Theoretical and clinical perspectives (pp. 37–52).
London and Philadelphia: Jessica Kingsley Publishers.
Knill,
P., Barba, H., & Fuchs, M. (1995). Minstrels
of soul: Intermodal expressive therapy. Canada: Palmerston Press.
Knill,
P., Levine, E., & Levine, S. (2005). Principles
and practice of expressive arts therapy: Toward a therapeutic aesthetics. London
and Philadelphia: Jessica Kingsley Publishers.
Kossak,
M. (2015). Attunement in expressive arts therapy: Toward an understanding of
embodied empathy. Springfield, IL: Charles C. Thomas.
Lacadée,
P. (2006). The singularity of a psychic reality: Psychoanalysis applied to
a case of ordinary psychosis. Psychoanalytic Notebooks, 15, 169–184.
Lacan, J.
(1931). Écrits ‘inspirés’: schizographie. [“Inspired” writings:
Schizography]. Annales Médico-Psychologiques, 2, 508–522.
Lacan, J.
(1966-1967). The seminar of Jacques Lacan book 14: The logic of the phantasm. (C.
Gallagher, Trans.). Unpublished typescript.
Lacan, J. (1975–1976). The seminar of Jacques
Lacan book 23: Joyce the sinthome. (L.
Thurston, Trans.). Unpublished typescript
--- VĂN PHÒNG TÂM LÝ THE DUMBO PSYCHOLOGY