🌟 Kể từ khi Freud đưa ra giả
thuyết về sự “gây hấn” như là động lực
vào năm 1920, chủ đề này đã trở thành một chủ đề tranh luận sâu sắc giữa các
nhà phân tâm. Ít có ý tưởng nào trong lý thuyết phân tâm học tạo ra nhiều tranh
cãi hơn thế (Blumenthal, 1976; Mitchell, 1993; Perelberg, 1995a, 1995b và
Chương 4 trong cuốn sách này) so với câu hỏi liệu sự gây hấn có phải là một bản
năng cơ bản hay một bản năng không thể bị
giản lược của con người, liệu nó là bẩm sinh hay phản ứng của chúng ta với môi
trường.
Nhiều nhà phân tâm học đã
theo đuổi nhận thức về sự gây hấn như một động lực, bao gồm Klein (1957),
Abraham (1924), Solnit (1972), Kernberg (1984) và Shengold (1991, 1993). Những
người khác cho rằng sự gây hấn là phản ứng với môi trường theo truyền thống dựa
trên những nghiên cứu từ ảnh hưởng của sự thiếu thốn và chấn thương đối với trẻ
em sau bài báo của Ferenczi (1933), tập trung vào ảnh hưởng của việc lạm dụng đối
với trẻ em (xem tài liệu của Gardiner, 1977).
👉 Do đó, sự gây hấn cũng được
coi là phản ứng với trải nghiệm nguy hiểm, chẳng hạn như sự phá vỡ sự đồng điệu
(Stern, 1985), sự va chạm (Winnicott, 1971), những trải nghiệm tình cảm tiêu cực
(Osofsky và Elberhart-Wright, 1988; Osoffsky, 1993) hoặc như một biện pháp
phòng thủ chống lại các mối đe dọa đối với bản ngã tâm lý (Fonagy và cộng sự,
1993a). Parens (1973, 1979) cũng nhận thấy sự gây hấn là phản ứng. Đối với
Kohut (1967, 1971), sự gây hấn liên quan đến trải nghiệm thất bại trong sự đồng
cảm. Fairbairn (1990) coi hành vi gây hấn là kết quả của việc trẻ sơ sinh bị tước
đoạt và không được thỏa mãn (xem thêm Stone, 1971; Stein, 1972; Usdin, 1972;
Marcovitz, 1982; Ortmeyer, 1984). Một số tác giả đã khám phá mối quan hệ giữa
giết người và tự tử (Reichard và Tillman, 1950; Weiss và cộng sự, 1960; West,
1966; Maltsberger và Buie, 1980; Lester, 1987).
Thuật ngữ 'gây hấn' đã được sử dụng để chỉ nhiều
loại hành vi, từ khẳng định bản thân đến phá hoại. Các lý thuyết khác nhau về
hành vi gây hấn bao gồm nhiều công thức phân tâm học, từ lý thuyết động lực đến
tâm lý học bản ngã và lý thuyết quan hệ đối tượng.
Các vấn đề thấm nhuần
trong tài liệu bao gồm: (a) liệu hành vi gây hấn có phải là động lực tự chủ hay
là phản ứng với sự lo lắng hoặc tổn thương do tự luyến; (b) liệu sự hung hang Hiểu
biết phân tích tâm lý về bạo lực và tự tử có ngụ ý khái niệm về bản năng chết hay không;
(c) tầm quan trọng của sự gây hấn trong quá trình cá thể hóa-tách biệt. Cuộc thảo
luận này dẫn đến sự phân biệt giữa sự gây hấn lành mạnh và bệnh lý; (d) mối
liên hệ giữa sự gây hấn và một mô hình ‘truyền
tải’ trong môi trường; (e) và mối liên hệ giữa các khái niệm về sự gây hấn
và bạo lực chỉ mới được nêu ra tương đối gần đây; (f) tài liệu gần đây hơn này
nêu ra mối quan tâm mới về vai trò của người cha, trong tâm trí của cả đứa trẻ
và người mẹ, cũng như mối quan tâm về việc ‘tái thiết’ môi trường do các đối tượng
chính của cha mẹ cung cấp.
Tôi sẽ bắt đầu bằng cách
trình bày quan điểm của Freud về sự gây hấn. Trong các phần tiếp theo, tôi sẽ
trình bày một bản tóm tắt về một số lập trường chính trong cuộc tranh luận về sự
gây hấn ở Mỹ, Anh và Pháp. Trong phần thứ sáu của chương, tôi quay lại với
Freud: để xem xét
cách mà bản thân Freud sử
dụng khái niệm bạo lực và gợi ý một số điểm khác biệt trong cách ông sử dụng
các khái niệm 'Gây hấn' và 'Bạo lực' trong tác phẩm của mình.
Trong phần cuối, tôi sẽ
xây dựng giả thuyết của mình rằng có thể có một ảo tưởng cốt lõi trong bạo lực
liên quan đến ảo tưởng của cá nhân về sáng tạo của chính mình.
Định nghĩa này chuyển
khái niệm về bạo lực từ cấp độ mô tả sang cấp độ thể hiện của tinh thần.
1 Nguồn gốc: Các công thức của Freud về các động lực Freud liên tục sửa
đổi quan điểm của mình về sự gây hấn hoặc xung hăng hủy diệt (Akbar, 1993).
Trong công thức lý thuyết ban đầu của mình (1905a), các xung năng gây hấn được
coi là phái sinh từ mong đợi làm chủ tính dục. Quan điểm này không được sửa đổi
trong khoảng mười năm. Trong 'Xung năng
và những thay đổi của chúng', Freud đã truy dấu nguồn gốc của các xung năng
đến từ sự kích thích bên trong cơ thể. Luận đề trung tâm của ông là 'các nguyên
mẫu thực sự của mối quan hệ giữa sự căm ghét không bắt nguồn từ đời sống tính dục,
mà từ cuộc đấu tranh của bản ngã để bảo tồn và duy trì chính nó' (1915a, tr.
138). Một trong những thay đổi lên xuống của bản năng tính dục là sự đảo ngược
thành mặt đối lập của nó, tình yêu chuyển thành sự căm ghét. Vào thời điểm đó,
Freud đưa ra giả thuyết rằng động lực làm chủ, kết hợp với các động lực khác, giúp
đỡ cho sự tự bảo tồn bản ngã và là một phần của bản năng tự bảo tồn.
Điều quan trọng cần chỉ
ra là, ngay cả tại thời điểm này trong quá trình xây dựng lý thuyết của mình,
Freud đã mô tả sự căm ghét là một chức năng của bản ngã, hướng đến một đối tượng:
'thái độ yêu và ghét không thể được sử dụng cho mối quan hệ của bản năng với đối
tượng của chúng, mà được dành riêng cho mối quan hệ của toàn bộ bản ngã với đối
tượng' (1915a, tr. 137).
Sự phát triển sâu hơn
trong các công thức của Freud bắt nguồn từ cả sự phát triển về mặt khái niệm và
lâm sàng. Freud đã xác định vai trò của sự gây hấn trong công trình lâm sàng của
mình (ví dụ, trong phân tích của ông về Dora, sự hiểu biết của ông về mâu thuẫn
cảm xúc bên trong của Dora đối với chính mình (Freud, 1905b)) và trong khuôn khổ
khái niệm của mình, chẳng hạn như những mô hình về phức hợp Oedipus, đã có nói
trong “The Interpretation of Dreams”
(1900) xem thêm Laplanche và Pontalis, 1985). Tuy nhiên, vấn đề chính trong lý
thuyết mà Freud phải đối mặt là làm thế nào để hòa giải một xung năng dẫn đến sự
tự hủy hoại hoặc hủy diệt người khác trên khuôn khổ tham chiếu giả định về tính
hai mặt của ham muốn tính dục và bản năng tự bảo vệ.
Vào năm 1915b, với tác phẩm
"Than khóc và u sầu", một
bước đột phá quan trọng đã diễn ra trên khuôn khổ tham chiếu lý thuyết của
Freud, khi lần đầu tiên ông đưa ra lời giải thích về mối quan hệ đối tượng dựa
trên sự chiếu rọi và nhận dạng:
Chúng ta đã biết từ lâu rằng
không có người mắc chứng loạn thần nào nuôi dưỡng những ý nghĩ tự tử mà đó
chính là họ cảm thấy mình không quay về lại với chính bản thân từ những xung năng
giết người, nhưng chúng ta chưa bao giờ có thể giải thích được sự tương tác của
các lực nào có thể đưa tới mục đích đó lại trở thành một hành động phải thực hiện.
Phân tích về chứng u sầu hiện cho thấy rằng do sự quay trở lại của việc đầu tư
vào đối tượng (object-cathexis), nên bản ngã chỉ có thể tự giết mình khi nó có
thể coi chính nó như một đối tượng.
Nếu nó có thể hướng sự
thù địch chống lại chính nó liên quan đến một đối tượng hoặc đó là sự đại diện
cho phản ứng ban đầu của bản ngã đối với các đối tượng ở thế giới bên ngoài….
Trong hai tình huống đối lập nhất là tình yêu mãnh liệt nhất và tự tử, bản ngã
bị đối tượng lấn át, mặc dù theo những cách hoàn toàn khác nhau.
(1915b, trang 252, chữ
nghiêng của tôi)
Chúng ta sẽ thảo luận sau
trong chương này về cách tự tử và bạo lực chống lại người khác có thể được coi
là những giải pháp đã thử cho trải nghiệm cảm thấy bị đối tượng lấn át này.
Với Beyond the Pleasure Principle (1920) và cuộc thảo luận về bản năng
chết, Freud đã cho phép xuất hiện một động lực gây hấn tự chủ
(Aggressionstrieb). Sự gây hấn chống lại thế giới bên ngoài đại diện cho sự ngoại
tại của bản năng chết, với sự trợ giúp của bộ máy cơ bắp. Động lực gây hấn phi
tình dục này hiện diện ngay từ khi bắt đầu cuộc sống và liên tục hoạt động để
tháo gỡ các kết nối, trái ngược với Eros, vốn tìm cách ràng buộc. Freud cũng
phân biệt chức năng phi tình dục của bản năng chết với chủ nghĩa bạo dâm và đề
xuất khái niệm về chủ nghĩa khổ dâm, một trạng thái mà bản năng chết chống lại
bản thân, nhưng bị ràng buộc và hợp nhất với ham muốn tình dục (Freud, 1924;
Laplanche và Pontalis, 1985, tr. 245). Chủ nghĩa bạo dâm sẽ chỉ là sự hợp nhất
của tính dục và bạo lực chống lại người khác. Tuy nhiên, Laplanche và Pontalis
chỉ ra rằng sự phân biệt giữa bạo lực và bạo dâm không phải lúc nào cũng được
Freud duy trì. Chúng ta sẽ quay lại thảo luận này sau trong chương này (phần
7).
Năm 1937, Freud tuyên bố:
Nếu chúng ta xem xét bức
tranh toàn cảnh tạo nên hiện tượng khổ dâm vốn có ở rất nhiều người, phản ứng
điều trị tiêu cực và cảm giác tội lỗi được tìm thấy ở rất nhiều người mắc chứng
loạn thần kinh, chúng ta sẽ không còn có thể tuân theo niềm tin rằng các sự kiện
tinh thần chỉ được chi phối bởi ham muốn khoái lạc. Những hiện tượng này là dấu
hiệu không thể nhầm lẫn về sự hiện diện của một sức mạnh trong đời sống tinh thần
mà chúng ta gọi là bản năng xâm lược hoặc hủy diệt dựa theo mục đích nhắm tới của
nó, và chúng ta truy nguyên bản năng chết nguyên thủy của vật chất sống (trang
243).
Với sự phát triển của mô
hình cấu trúc của tâm trí chứa đựng sự phân biệt giữa bản ngã, cái ấy và siêu
ngã (Freud, 1923, 1926), bản ngã không thể xem như là được trang bị những động
lực riêng vì chúng được coi là bắt nguồn từ cái ấy (Hartmann và cộng sự, 1949).
Sự phát triển của khái niệm siêu ngã cũng đưa ra giả thuyết về một lực lượng
phê phán vô thức mạnh mẽ, được tạo thành từ sự nội tâm hóa của đứa trẻ đối với
những lệnh cấm của cha mẹ. Sự gây hấn giờ đây đã trở thành một đặc điểm trong
cách các bộ phận khác nhau của tâm trí liên quan đến nhau.
Các nhà phân tâm học có
xu hướng coi sự đối lập giữa bản năng sống và chết ngang bằng với sự đối lập giữa
tình dục và tính gây hấn. Vì bản thân Freud không phát triển khái niệm về sự gây
hấn theo cùng cách mà ông phát triển khái niệm về ham muốn tình dục, nên các
nhà phân tâm học có xu hướng tìm ra điểm tương đồng giữa ham muốn tình dục và sự
gây hấn. Tuy nhiên, khái niệm về bản năng chết bao gồm một số ý tưởng liên quan
không chỉ liên quan đến sự gây hấn mà còn liên quan đến tính thụ động, như
trong “Nguyên lý Niết bàn” (Clancier
và cộng sự, 1984) và sự cưỡng chế lặp lại, không có mối quan hệ đặc biệt nào với
hành vi gây hấn (Laplanche và Pontalis, 1985).
Trong “An Outline of Psychoanalysis” (1938a),
Freud đã đưa ra giả thuyết về hai bản năng cơ bản—Eros và Thanos.
Mục đích của bản năng cơ
bản (Eros) đầu tiên là thiết lập các đơn vị ngày càng lớn hơn và bảo tồn chúng
như vậy—nói tóm lại, là gắn kết với nhau; ngược lại, mục đích của bản năng thứ
hai là phá vỡ các kết nối và phá hủy mọi thứ. Trong trường hợp của bản năng hủy
diệt (Thanos), chúng ta có thể cho rằng mục đích cuối cùng của nó là dẫn những
gì đang sống trở về trạng thái vô cơ.
(trang 148)
Trong 'Phân tích có thể kết thúc và vô tận'
(1937), Freud cũng đã giới thiệu khái niệm 'tính
gây hấn tự do'. Sự gây hấn đang “lơ lửng”,
sẵn sàng bám vào bất kỳ bản năng nào bất cứ khi nào nó chọn làm như vậy. Khái
niệm này giải thích sự cùng tồn tại của tình yêu và lòng căm ghét đối với cùng
một đối tượng. Trong 'Tại sao lại chiến
tranh?' (1932), Freud cho rằng bản năng 'hiếm
khi nào hoạt động một cách biệt lập; nó luôn đi kèm... với một hạn ngạch nhất định
từ phía bên kia, điều này làm thay đổi mục tiêu của nó hoặc trong một số trường
hợp, là thứ cho phép nó đạt được mục tiêu đó' (trang 209). Do đó, bản năng
tự bảo vệ, về phía Eros, phải có một mức độ gây hấn nhất định để có thể thực hiện
được mục đích của nó. Trong bức thư gửi Einstein, Freud cũng phân biệt giữa bản
năng chết – sự hướng đến bản thân - và động lực hủy diệt, hướng đến người khác.
Điều quan trọng là phải
nhấn mạnh tầm quan trọng mà Freud dành cho sự gây hấn trong quá trình phát triển
của cá nhân. Nó có chức năng thúc đẩy thiết yếu cho việc xây dựng cuộc sống.
Tôi nghĩ rằng quan điểm thiết yếu này về sự gây hấn sau này đã bị mất trong một
số tài liệu phân tâm học.
Năm 1924, Abraham đã khám
phá ra nguồn gốc của tính hủy diệt liên quan đến nguyên nhân gây ra các rối loạn
tâm thần diễn biến ở Anh.
--- Văn phòng Tâm lý The Dumbo Psychology
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét